BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

 

Mái tóc bạc trắng, nụ cười đôn hậu và giọng nói hiền từ, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy gần như dành cả tình thương yêu và trí tuệ của mình để theo đuổi sự nghiệp chống ma túy, giành giật từng mạng sống trước lưỡi hái của tử thần.

[BizSTORY] Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy: Nhà tình báo và cái nghiệp chống ma túy

Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc Công ty điều dưỡng & cai nghiện ma túy Thanh Đa.

Là đơn vị  cai nghiện tự nguyện đầu tiên của cả nước còn duy trì hoạt động đến nay, sau 17 năm hoạt động, công ty điều dưỡng  & cai nghiện ma túy Thanh Đa đã điều trị cho hơn 18.000 học viên, tỷ lệ nhập viện mỗi năm một tăng trong khi tỷ lệ tái nhập đều giảm.

Đằng sau con số đó là biết bao nhọc nhằn, cơ cực, dũng cảm vượt qua rào cản của cơ chế chính sách để tìm ra những phương pháp khoa học tiến bộ nhất, hàng ngày phải đối diện với những tình huống đầy cam go như trong cuộc chiến mà chỉ có tình yêu thương mới cảm hóa được tâm hồn, rồi phải cân đối giữa kinh doanh và tình người…

Nói về công việc đầy thử thách của mình, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy chia sẻ: “Đây là ngành kinh doanh hết sức đặc biệt, người ta tính lãi bằng đô la, chúng tôi tính lãi bằng con người”.

Ít ai biết ông chính là cụm phó Cụm điệp báo A 10 thuộc cơ quan an ninh T4, cụm điệp báo với những chiến công làm lũng đoạn chính trường VNCH, xoay chuyển dư luận báo chí quốc tế có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thúc đẩy Dương Văn Minh đầu hàng và kêu gọi binh lính VNCH buông súng…tránh một cuộc đổ máu vô ích, bảo vệ Sài Gòn còn nguyên vẹn, và nhiều điệp vụ hoàn hảo khác được lịch sử ghi nhận

Trong lịch sử chiến tranh nhân loại, các trận đánh kết thúc cuộc chiến thường để lại cảnh hoang tàn, hủy diệt, nhất là khi diễn ra ở các thành phố lớn, nhưng công cuộc giải phóng Sài Gòn, kết thúc chiến tranh đã không diễn ra như vậy?

Nói về điều này, CIA cho rằng “trùm tình báo” Trần Quốc Hương, tức anh Mười Hương, người chỉ huy mạng lưới an ninh T4 đã tiên liệu và góp phần chuẩn bị “hậu sự” cho VNCH từ trước 1972, để khi giải phóng Sài Gòn không có đổ máu và thành phố còn nguyên vẹn.

Tháng 9/1972, anh Mười Hương đã tìm một số anh em trong nhóm phong trào ở miền Trung để đi vào nhóm Dương Văn Minh và triển khai các công tác vận động chính trị, hay nói cách khác là hoạt động tình báo chính trị. Hoạt động này nhằm tạo thế và lực lớn mạnh cho số đối lập chịu ảnh hưởng của cách mạng và khi có đủ điều kiện có thể thay thế được Nguyễn Văn Thiệu, tạo thuận lợi cho sự nghiệp thống nhất đất nước.

Cụm A 10 đã xây dựng được các “lõm chính trị” trong thành phố, có hạt nhân lãnh đạo, có lực lượng quần chúng cảm tình với cách mạng và có thể lợi dụng được bộ máy hành chính của địch để phục vụ yêu cầu của ta. Ngoài ra, cụm còn có nhiệm vụ xây dựng cơ sở tấn công chính trị, phân hóa hàng ngũ địch, thu thập tin tức âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của địch. Trong vai trò cụm phó Cụm điệp báo A 10, tôi đã tổ chức xây dựng được nhiều cơ sở nòng cốt như đồng chí Huỳnh Bá Thành( Ba Trung), lúc bấy giờ là Giám đốc kỹ thuật kiêm thư ký tòa soạn báo Điện Tín, cơ quan ngôn luận chính thức của nhóm Dương Văn Minh. Thông qua đồng chí Thành, cụm đã xây dựng được một mạng lưới ngoại vi làm nòng cốt cho hoạt động của cụm, tác động mạnh trực tiếp vào Dương Văn Minh.

Tôi đã chỉ đạo đồng chí Huỳnh Bá thành sử dụng báo Điện Tín hướng dẫn, vận động dư luận quần chúng theo ý đồ có lợi cho cách mạng. Phân hóa hàng ngũ địch, tổ chức lôi kéo các lực lượng tiến bộ, hòa bình, dân tộc, tập hợp thành lực lượng chống đối Nguyễn Văn Thiệu, lôi kéo các báo khác viết theo khuynh hướng của ta.

Một số dân biểu, nghị sĩ, nhân sĩ, ký giả được ta xây dựng như giáo sư Lý Chánh Trung, dân biểu Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, ký giả Minh Đỗ, phóng viên nhóm Dương Văn Minh như Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Hồng( Cung Văn), Trương Lộc, Huỳnh Bá Tòng đã trở thành cơ sở ngoại vi của ta.

Ngoài ra, tôi đã tác động, gây áp lực buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Dương Văn Minh đầu hàng. Cụ thể, tháng 3 năm 1975, sau khi tờ Điện Tín bị Thiệu đóng cửa, lãnh đạo chỉ đạo tôi yêu cầu đồng chí Huỳnh Bá Thành tìm cách ở hẳn trong dinh Hoa Lan của tướng Dương Văn Minh.

Cụm A 10 phải bằng mọi cách tấn công chính trị, tác động để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu rồi tìm cách giao chính quyền cho cách mạng để đỡ đổ máu.

Trong những ngày kế cận chiến thắng, đồng chí Huỳnh Bá Thành đã góp phần tác động trực tiếp đến Dương Văn Minh để ra tuyên bố án binh bất động trước khi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975 lịch sử và chỉ đạo cơ sở Phan Xuân Huy( con rể Dương Văn Minh) ngăn chặn không phá cầu Sài Gòn

Với những thành tích, khen thưởng dày đặc, những tưởng ông sẽ hưởng an nhàn khi tuổi đã già, vì sao ông lại chọn con đường chông gai, khi đứng ra thành lập công ty điều dưỡng & cai nghiện ma túy Thanh Đa bằng đồng vốn và kiến thức của chính mình?

Sau giải phóng làm việc tại trại giam Chí Hòa, mỗi ngày bắt về cả trăm con người bị nghiện ma túy, mình phải cắt cơn, điều trị.

Khi nói chuyện tâm tình với các em bị nghiện, thấy người nào cũng có tâm tư đáng buồn, mình lại thấy thương.

Khi làm hội thẩm tại tòa án nhân dân TP HCM, tôi cũng tiếp xúc với rất nhiều đối tượng nghiện ma túy, chứng kiến sự tàn phá ghê gớm của ma túy đối với con người.

Ma túy tàn phá sức khỏe, băng hoại đạo đức, biến dạng nhân cách, để lại hậu quả vô cùng nặng nề không chỉ bản thân người nghiện mà con gia đình và xã hội.

Với kiến thức về ngành y, khi hiểu thêm chuyện lây lan của ma túy, những thủ đoạn của bọn buôn bán ma túy… tôi thấy mình cần  có trách nhiệm làm một việc gì đó để chống lại ma túy, cứu những con người đã lỡ sa chân vào con đường cùng này.

Khoa cắt cơn trong các bệnh viện chỉ cai được 10-15 ngày thì về, nên phần lớn là thất bại, làm thế nào ông có thể tìm ra các phương pháp khoa học để mang lại hiệu quả cao cho phác đồ điều trị cắt cơn?

Khi lập trung tâm này tôi cũng chỉ được học phác đồ cắt cơn cai nghiện đơn giản thôi. Những ngày đầu dùng phác đồ của Bộ Y tế không tác dụng, bệnh nhân về nhà và hầu hết đều tái nghiện. Không những thế còn rất nhiều phản ứng phụ, bệnh nhân thường bị “sảng thuốc”, “xuyên tường- bắt bướm” và dễ bị kích động, gây gổ đánh nhau. Nhiều anh em trong công ty chán nản, không muốn tiếp tục làm công việc này nữa

Tôi phải tự nghiên cứu, đọc sách báo nước ngoài để học hỏi, từ 2003 đến 2009 mới tìm ra phác đồ điều trị cắt cơn bằng Clonidine kết hợp thuốc giải lo âu, an thần và giảm đau vào điều trị. Liều lượng thuốc Clonidine sử dụng giảm chỉ còn 1/3 so với liều điều trị cho phép liều thuốc giảm lo âu, an thần. Giảm đau sử dụng chỉ bằng ½ so với liều cho phép nên sử dụng hết sức an toàn. Phác đồ này đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng, nhưng tại Việt Nam chưa có trung tâm nào điều trị theo phương pháp này.

Hơn 5 năm, mệt mỏi lắm mới ra được công thức cắt cơn, ai cũng thấy hay nhưng chúng tôi toàn phải… áp dụng “lậu” không à. Vất vả hơn nữa là làm thế nào để Bộ Y tế chấp nhận đưa vào quy chế.

May mắn là Phó Giáo sư TS Trần Viết Nghị, nguyên viện trưởng Viện sức khỏe tâm thần trung ương, Chủ tịch hội Tâm thần học Việt Nam vào thăm Trung tâm Thanh Đa, quan sát 10 ngày thấy phác đồ điều trị cắt cơn bằng Clonidine có kết quả rất tốt, hội chứng cai nhẹ, số hội chứng cai ít, dùng nguyên liệu an toàn, sử dụng liều rất thấp…

Giáo sư Nghị đã mời tôi ra Hà Nội báo cáo trước hội đồng khoa học bệnh viện Bạch Mai và Cục khám chữa bệnh- Bộ Y Tế.

Tự bỏ tiền mua vé máy bay ra Hà Nội, sau buổi báo cáo của tôi, Bộ Y tế đã đồng ý cho Viện sức khỏe tâm thần thực hiện đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu áp dụng Clonidine trong điều trị cắt cơn nghiện các chất dạng thuốc phiện”.

Viện sức khỏe tâm thần sau đó đã mở nhiều lớp tập huấn cho cán bộ y tế làm công tác cai nghiện toàn quốc. Nhưng để Bộ Y tế ra một quyết định mới rất khó, mình không liều mạng thì không xong.

Đến bây giờ thì dường như họ quên rồi, nên chúng tôi vẫn phải … áp dụng lậu! Tai hại hơn là nhiều nơi vẫn cắt cơn tùm lum, rất ít nơi áp dụng theo phương pháp này

Người nghiện ma túy sợ nhất là… tái nghiện, trung tâm của ông có phương pháp nào hữu hiệu không?

Nhận thấy việc chống tái nghiện nhóm các chất dạng thuốc phiện bằng Naltrexone là phù hợp với điều kiện của học viên cai nghiện tại Thanh Đa nên chúng tôi triển khai khoa Chống tái nghiện.

Đưa 2 bác sĩ và 5 y sĩ tập huấn tại Hà Nội và Vũng Tàu, đầu tư hơn 300 triệu xây dựng khoa Chống tái nghiện, sau khi nghiên cứu, tôi nhận thấy dù sử dụng thuốc Methadone hoặc Naltrexone cũng chỉ là hỗ trợ chống tái nghiện, vấn đề chính là phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy, bắt nguồn từ tư tưởng, nhận thức mà ra. Giải quyết thế nào?

Không thể chỉ tập dưỡng sinh, cho đi lao động là xong, còn nhiều vấn đề khác. Nghiên cứu tài liệu trong ngoài nước, dịch sách báo, càng ngày tôi càng thấu ra cai nghiện là hậu quả từ nhận thức.

Phải tìm hiểu kỹ lý do đi vào ma túy của từng người là gì? Tâm trạng người bệnh ra sao? Nguy cơ, bảo vệ là gì? Khả năng họ yếu mặt gì?

Để từ đó gọt giũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, cũng như rèn luyện tư duy tích cực, kỹ năng sống, để khi gặp ma túy họ phải đối ứng ra sao…

Toàn bộ vấn đề này phải có thời gian lâu dài mới quen được, vì bệnh nhân tổn hại tế bào não, cần có thời gian để não bộ hồi phục dần.

Kết quả điều trị rất khích lệ, sau 8 năm triển khai khoa Chống tái nghiện, công ty đã điều trị cho hơn 1000 học viên, sau một năm điều trị, có hơn 75% số học viên chưa tái nghiện, không còn thèm nhớ và tìm kiếm heroin, 50% các cháu điều trị ngoại trú đã có việc làm.

Tiến sĩ Kenvin P. Muley, cố vấn điều trị nghiện thuộc chương trình hỗ trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đến thăm trung tâm và đưa nhiều đoàn khác đến nghiên cứu. Bà tiến sĩ Nora Doloses Volkow, Giám đốc Viện nghiên cứu ma túy quốc gia Hoa Kỳ cũng đến thăm và đánh giá cao hoạt động khoa Chống tái nghiện, và đã mời tôi qua Hoa Kỳ để báo cáo tham luận…

Theo tôi, cuối cùng giáo dục trị liệu vẫn là quan trọng nhất, kết hợp chặt chẽ các biện pháp tâm lý, xã hội quản lý trên nền tảng cộng đồng trị liệu, giữa trung tâm và học viên, gia đình… để điều trị

Ông có lời khuyên nào với các bậc cha mẹ, nhất là cha mẹ doanh nhân với con cái mình, để giúp con tránh xa cạm bẫy ma túy lúc nào cũng rình rập ngay trước cổng trường?

Đối tượng ma túy không chừa ai hết, người giàu cũng như người nghèo.

Theo tính toán của công an, để mua một tép ma túy 40 ngàn, các em phải bán cho 5 người khác. Con số nghiện ma túy tăng theo cấp số nhân.

Phụ huynh phải luôn theo sát con em mình, chú ý nhất ở các mối quan hệ. Nếu các cháu chơi với nhóm bạn không tốt thì rất dễ dẫn đến nguy cơ ma túy.

Theo sát kỹ sinh hoạt của con cái, nếu thấy rối loạn về sinh hoạt, ăn ngủ thất thường, chơi bời thất thường, bỏ học… phải đưa vào cai nghiện ngay. Đừng để kéo dài gây tổn thương não, điều trị rất mất thời gian.

Các em vào đây phần lớn là từ 18 tuổi đến 30 tuổi, lứa tuổi đẹp nhất của đời người, thời gian chữa rất lâu.

Phải hiểu nghiện ma túy là bệnh mãn tính, khó chữa, cai nghiện phải nhiều lần, nên đừng hỏi tái nghiện bao nhiêu phần trăm.

Cai nghiện tạm gọi là thành công khi trở lại cộng đồng sau 5 năm, mới về làm sao nói tái nghiện.

Chữa cai nghiện rất khó khăn, vì nó nằm trong đầu người ta mà. Sự ham muốn của nó rất khủng khiếp, nên bắt người nghiện chống đối điều này rất khó khăn.

Nhận vào mình trọng trách xã hội nặng nề, nhưng mọi chi phí đều phải tính toán như một công ty tư nhân, khó khăn thách thức về kinh doanh, về sự an toàn có là một áp lực nặng nề với riêng ông?

Tất cả các khoản chi đều phải tính vào chi phí, nhất là lương của nhân viên. Lương phải cao thì anh em mới theo đuổi nghề này. Cán bộ tư vấn ở đây đều có trình độ đại học, nhiều nhất là các em ở đại học Khoa học xã hội & Nhân văn.

Cơ số học viên khoảng 100, học viên nghiện ma túy lại thêm bệnh tâm thần nên điều trị rất gay go, thường xuyên quậy phá làm hư hỏng đồ đạc.

Tôi đã từng bị các em đe dọa đánh nhiều lần, có em còn cầm nguyên cái giá đựng bình nước đập vào người…Có em còn cầm miểng chai đòi cứa cổ bảo vệ…

Lúc nào ở đây cũng trong tình trạng căng thẳng như trong chiến tranh vậy.

Điều gì khiến anh theo đuổi đến cùng công việc nặng nhọc này, dù tuổi đã già, sức đã yếu?

Cái nghiệp thôi, mình phải dính vào. Giúp đời thì có nhiều cách giúp, nhưng cái nghiệp nên mình cứ phải ôm riết.

Nhiều bạn bè nói tôi khối gì cách kinh doanh nhẹ nhàng hơn, là bác sĩ lâu năm trong nghề, có phòng mạch riêng cũng sống khỏe re, việc gì ông phải cực thế này?

Ngày xưa làm tình báo vì con người, bây giờ chống ma túy cũng là để cứu người. Tôi nhờ có tính thiền trong người nên mới làm được công việc nặng nhọc này, bởi đối xử với các em phải bằng tất cả tình yêu thương, không được nổi nóng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, phải ngoài mềm, trong cứng.

Các em tinh lắm, phải yêu thương thật lòng và dành hết thời gian cho các em, để các em cảm nhận được sự chăm sóc của mình, tâm phục khẩu phục,mới cảm hóa được con người.

Buổi sáng 6 giờ tôi tới trung tâm, 8 giờ tối mới về tới nhà. Mệt mỏi lắm, nhưng niềm vui của mình là sự trưởng thành của từng con người ở đây

Ông thấy mình được gì, mất gì?

Được hiểu biết thêm nhiều về xã hội, phương pháp điều trị, bản thân tôi đã nỗ lực nghiên cứu để xây dựng được Hệ thống lý luận cơ bản và chiến lược cai nghiện phục hồi, chống tái nghiện có hiệu quả, trong đó môi trường trị liệu kết hợp với cộng đồng trị liệu là mô hình riêng của công ty Thanh Đa.

Còn mất đi sự thanh thản, thoải mái. Đáng lý tuổi mình đến giờ là khỏe rồi, nhưng ngày nào vào đây cũng đối diện với những ca bệnh, luôn cảnh giác, đối phó, làm mình bận trí ghê lắm.

Nhưng điều tôi theo đuổi là nghĩ đến trách nhiệm xã hội, vì số người hiểu biết về ma túy rất ít, trong đó có mình..

Cuộc đời tôi tích lũy kinh nghiệm ma túy từ công tác an ninh, y tế, nghiên cứu … thời gian dài, chống ma túy là cái nghiệp rồi nên cứ thế mà đi.

KIM YẾN

CẬP NHẬT KHOA HỌC MỚI CHO NGƯỜI CAI NGHIỆN TỰ NGUYỆN

Bên cạnh các biện pháp điều trị nghiện truyền thống, một số cơ sở cai nghiện đã cập nhật những biện pháp cai mới để hỗ trợ người cai nghiện tự nguyện.

Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa (TP.HCM) là một cơ sở cai nghiện tự nguyện. Từ nhiều năm nay, Trung tâm đã mời nhiều nhà khoa học là Giáo sư, Tiến sỹ về y học, tâm lý, xã hội học tham gia Hội đồng khoa học, làm cố vấn cho Trung tâm. Trung tâm luôn cập nhật các tài liệu khoa học mới của Việt Nam và quốc tế để nghiên cứu, chọn lọc, áp dụng cho công tác cai nghiện phục hồi. Trung tâm đã xây dựng nhiều bộ tài liệu về y học trị liệu, tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, phòng chống tái nghiện, xử lý khủng hoảng đối với người nghiện ma túy…

 

Học viên cai nghiện tại trung tâm Thanh Đa. Ảnh internet

Trung tâm đã thực hiện cắt cơn nghiện ma túy bằng Clonidine được Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương đánh giá cao. Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng các phương pháp điều trị nghiện ma túy tổng hợp từ năm 2004. Đến nay đã điều trị hơn 3.000 lượt học viên.

Phương pháp chống tái nghiện ma túy nhóm OMH (thuốc phiện, mophine, heroine…) bằng Naltrexone kết hợp với tư vấn-tâm lý trị liệu-giáo dục trị liệu của Trung tâm được các đoàn khách trong nước và quốc tế ghi nhận.

Để đạt được kết quả như trên, Trung tâm không ngừng cải tiến phương pháp điều trị, giữ mối liên lạc với hàng ngàn học viên đã hồi gia và thân nhân của họ để nắm bắt thông tin, tư vấn, hỗ trợ. Hơn 18 ngàn lượt người đã được Trung tâm cai nghiện với với chất lượng không ngừng được cải tiến và nâng cao. Trung tâm đã tham dự nhiều hội thảo trong nước và quốc tế tại Mỹ, Thụy Điển, Hồng Kông, Thái Lan, Ấn Độ…

Viện Nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy (PSD) là cơ quan độc lập đầu tiên ở nước ta chuyên nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy. Hội đồng khoa học của Viện gồm những nhà khoa học đầu ngành về tâm lý học, sinh lý học, xã hội học. Viện đã bảo thành công Đề tài khoa học “Nghiên cứu nguyên nhân tái sử dụng, tái nghiện ở người cai nghiện ma túy” và áp dụng thực nghiệm phương pháp phòng chống tái nghiện mới bằng tâm lý cho hàng trăm người nghiện với tỷ lệ tái nghiện sau 2-3 năm dưới 50%. Viện đang tiếp tục hoàn thiện phương pháp này. Đồng thời, hàng chục người sau cai được bố trí công ăn, việc làm có thu nhập ổn định.

Viện PSD còn chú trọng các hoạt động truyền thông, tập huấn phòng chống ma túy cho hơn 100.000 HSSV, giáo viên, cha mẹ HSSV, hơn 50.000 học viên và thân nhân, cán bộ nhân viên trong các Trung tâm CBGDLDXH và cộng đồng, hàng nghìn các tình nguyện viên Đội công tác xã hội tình nguyện.

Trước thực trạng gia tăng các loại ma túy mới và sự thay đổi liên tục về phương thức, thủ đoạn của bọn buôn bán ma túy trong thời gian gần đây, đã làm gia tăng số người nghiện mới. Chính vì vậy, để công tác phòng, chống ma túy có hiệu quả rất cần sự chung tay góp sức của các tổ chức, cá nhân vì cộng đồng.

Nhật Thy

Lên biên giới xách 20 kg thuốc phiện, 3.000 viên thuốc lắc

Hai nghi phạm mua 20 kg thuốc phiện, 3.000 viên ma túy tổng hợp của một người đàn ông không rõ danh tính ở biên giới xã Chiềng Khương (Sông Mã, Sơn La) về bán lấy tiền tiêu Tết.

Thực hiện cao điểm ra quân tấn công tội phạm bảo vệ Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, sáng 17/12, Công an huyện Mai Sơn phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Sơn La phá thành công Chuyên án ma túy lớn, bắt giữ 2 nghi phạm về hành vi Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy.

Len bien gioi xach 20 kg thuoc phien, 3.000 vien thuoc lac hinh anh 1

Hai nghi phạm và tang vật. 

Hai người bị bắt là Tráng A Dình (37 tuổi) và Sồng A Chính (28 tuổi, cùng trú huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái).

Tang vật thu giữ gồm 20 kg thuốc phiện, 3.000 viên ma túy tổng hợp và một số vật chứng liên quan khác.

Bước đầu các nghi phạm khai nhận đã mua số ma túy trên của một người đàn ông không rõ danh tính tại khu vực biên giới xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, Sơn La về bán kiếm lời để lấy tiền tiêu Tết. Khi vận chuyển đến bản Nà Ớt, xã Nà Ớt, huyện Mai Sơn, thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ.

Vụ việc đang được tiếp tục điều tra mở rộng.

HƠN 26.000 VIÊN MA TÚY TỔNG HỢP GIẤU TRONG LON BIA

HƠN 26.000 VIÊN MA TÚY TỔNG HỢP GIẤU TRONG LON BIA 

https://vnexpress.net/

Hai người đàn ông đi máy vượt biên sang Lào để mua ma túy mang về Việt Nam tiêu thụ.

Ngày 16/11, lực lượng biên phòng bắt quả tang hai nghi can vận chuyển trái phép chất ma túy vào lãnh thổ Việt Nam qua địa phận xã Na Mèo, huyện Quan Sơn (Thanh Hóa).

Khống chế Sung Văn Dính (40 tuổi) và Sung Văn Ly (34 tuổi, cùng trú xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, Thanh Hóa,  nhà chức trách thu thu 26.200 viên ma túy tổng hợp…

Hai nghi can khai một ngày trước đã đi xe máy vượt biên trái phép sang Lào mua ma túy và vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ.

Nhằm qua mắt các lực lượng chức năng, chúng giấu hàng cấm vào các lon bia.

Lam Sơn

NGHIỆN LÀ GÌ ? CƠ CHẾ GÂY NGHIỆN

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine - Slide

 

TÁC HẠI CỦA MA TÚY DẠNG ĐÊ MÊ (THUỐC PHIỆN – MORPHIN – HEROIN)

TÁC HẠI CỦA MA TÚY DẠNG ĐÊ MÊ (THUỐC PHIỆN – MORPHIN – HEROIN)

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

I. Đặc điểm dược lý

1. Tác động của các chất dạng thuốc phiện lên não

Morphine khi vào cơ thể liên kết với proteine huyết tương với tỉ lệ khoảng 30% và được chuyển hóa chủ yếu thành dẫn xuất glucoronocojugues, dẫn xuất này qua chu trình ruột gan. 6-glucoronide là một chất chuyển hóa mạnh hơn 50 lần so với morphine. Đáp ứng sinh học với đường tiêm dưới da, và chỉ bằng 30% so với đường tiêm tĩnh mạch. Thời gian bán hủy của morphine trong máu khoảng 2-6 giờ. Các dẫn xuất glucoronocojugues được đào thải chủ yêu qua nước tiểu, thải trừ qua phân dưới 10% (sau 24 giờ 90% morphine bài tiết ra ngoài), chỉ một lượng nhỏ morphine vào hệ thần kinh trung ương và đến các điểm tiếp nhận morphine ở não.

Có nhiều điểm tiếp nhận morphine ở não (µ, ĸ, σ, δ) nhưng các điểm tiếp nhận µ là cơ sở chủ yếu, nằm rải rác ở não, tập trung nhiều nhất ở vừng dưới đồi, có một ít ở hệ thần kinh thực vật

Tại các điểm tiếm nhận µ có sẵn các peptide nội sinh (endorphine, enkephaline…), Các peptide này tác động qua lại với morphine và dẫn truyền morphine qua hệ thần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra các tác dụng chuyên biệt như: giảm đau, giải lo âu, chống trầm cảm, ức chế hô hấp (giảm ho), tăng trương lực cơ tron dạ dày, ruột (chống tiêu chảy), đặc biệt gây cảm giác sảng khoái. Tuy nhiên chính cảm giác sảng khoái lợi bất cập hại này đã quyến rũ người sử dụng và sản sinh ra hiện tượng nghiện với ba trạng thái: dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần.

2. Cơ sở sinh học của trạng thái dung nạp

Morphine tác động liên tục vào các điểm tiếp nhận µ sẽ ức chế hoạt động của các men adenylcyclase là men kích thích chất ATP (adenosin triphosphate) để sản xuất ra chất AMPc (adenosin monophosphate cyclique), một chất có vai trò thiết yếu trong sản sinh và dẫn truyền các xung động thần kinh, năng lượng cơ bản của hoạt động thần kinh và tâm thần. Do cơ thể không thể thiếu adenylcyclase được, nên để bù vào lượng adenylcyclase do morphine làm giảm, cơ thể phải liên tục tổng hợp adenylcyclase với nồng độ không ngừng tăng lên. Muốn làm giảm adenylcyclase để có được cảm giác sảng khoái như lần trước, lượng morphine đưa vào cơ thể lần sau phải cao hơn. Và cứ như thế, cơ thể người nghiện được tập dượt để dần dần dung nạp những liều morphine ngày càng tăng và tăng rất cao.

3. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể (hay trạng thái cai)

Trong khi người nghiện ngừng sử dụng các chất dạng thuốc phiện, cơ thể vẫn duy trì phương thức đáp ứng như khi có một lượng lớn chất dạng thuốc phiện đưa vào cơ thể hàng ngày, tức là vẫn liên tục tổng hợp một lượng lớn men adenylcyclase. Các chất morphine nội sinh (endorphine) được cơ thể sản xuất quá ít, không thể ức chế được lượng adenylcyclase quá lớn này.

Do nồng độ AMP vòng trong cơ thể tăng vọt lên, kích thích mãnh liệt hệ thần kinh, gây triệu chứng cơ thể rất khó chịu, báo động gây gắt trạng thái thiếu hụt morphine và nhu cầu cần thiết phải đưa ngay morphine vào cơ thể. Người nghiện không thể cưỡng lại được, phải bằng mọi giá tìm cho kỳ được chất dạng thuốc phiện để đưa vào cơ thể.

4. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần (hay thèm chất dạng thuốc phiện) trường diễn

Theo nhận định thống nhất của hội đồng các chuyên viên về lạm dụng chất của Tổ chức Y Tế thế giới thì sự lệ thuộc vào chất gây nghiện trước hết và chủ yếu là sự lệ thuộc về mặt tâm thần. Còn đối với sự lệ thuộc về mặt tâm thần. Còn đối với sự lệ thuộc về mặt cơ thể (trạng thái cai) thì co bản năng sinh tồn, cơ thể phải tự điều chỉnh để sớm chấm dứt các triệu chứng cơ thể gay gắt, khó chịu đựng trong vòng từ 1-2 tuần (trung bình trong vòng 10 ngày). Tuy nhiên, mất hội chứng cai rồi, người nghiện chất dạng thuốc phiện vẫn tiếp tục nhớ và thèm cái cảm giác khoái và cảm giác bình thản do chất dạng thuốc phiện tạo ra. Đó là nguyên nhân làm cho gần như 100%người nghiện chất dạng thuốc phiện tái nghiện sau khi cắt cơn một thời gian ngắn hoặc nếu không được điều trị duy trì. Đây là một hiện tượng sinh học phức tạp, chưa được sáng tỏ hoàn toàn nên có nhiều cách giải thích khác nhau tùy theo quan điểm của từng học giả.

Đa số các tác giả thừa nhận cảm giác sảng khoái và bình thản do chất dạng thuốc phiện gây ra là cơ sở sinh học của trạng thái thèm nhớ trường diễn chất ma túy. Và môi trường dễ có được chất dạng thuốc phiện nói riêng (và các chất gây nghiện nói chung) là nhân tố kích thích xung động tìm chất ma túy của người nghiện.

Một số nhà điều trị theo liệu pháp tập tính cho rằng trong một thời gian dài, tất cả các phản ứng của não bộ đối với chất dạng thuốc phiện nói riêng (và ma túy nói chung) đã đưa vào hàng ngày, nhất là phản ứng của các điểm tiếp nhận tương ứng, đều được lưu dấu vết bền vững vào bộ nhớ não, hình thành một phản xạ có điều kiện, có cơ sở sinh học kiên cố không dễ dàng xóa được. Do vậy, những người đã cai chất dạng thuốc phiện nhiều năm khi gặp một kích thích có liên quan đến các khâu cung cấp và sử dụng chất dạng thuốc phiện (đi qua nơi bán và nơi tiêm chích trước kia,…), các dâu vết của phản xạ có điều kiện được hoạt hóa, nhớ và thèm chất dạng thuốc phiện trở nên mãnh liệt, từ đó xuất hiện xung động đi tìm chất dạng thuốc phiện và tái nghiện.

Wikler (1972) giải thích sự lệ thuộc chất gây nghiện về mặt tâm thần theo lý thuyết phản xạ có điều kiện thực thi của Skinner, nhấn mạnh vào luận điểm sau đây:

Nghiện chất là một tập tính phức tạp, luôn tuân theo một qui luật về hiệu quả của Thorndike: "Mọi cơ thể sống đều nhạy cảm với hiệu quả của hành vi của mình". Một tập tính mang lại lợi ích về vật chất hay tâm thần hoặc mang lại cảm giác thích thú, dễ chịu thường được duy trì. Con chuột thí nghiệm của trường phái Skinner qua quá trình thăm dò và sửa chữa, luôn tránh cái bàn đạp gây cảm giác khó chịu và liên tục đạp vào bàn đạp gây thích thú hay đưa lại thức ăn.

Tiêm heroin gây cảm giác sảng khoái. Wikler gọi đó là một chất kích thích tăng cường dương tính. Cắt heroin gây ra hội chứng cai là một kích thích tăng cường âm tính.

Kích thích tăng cường dương tính và âm tính đều thúc đẩy người nghiện phải tiếp tịc sử dụng chất dạng thuốc phiện. Đó là cơ sở phản xạ có điều kiện thực thi của nghiện chất, thèm nhớ và tái nghiện chất.

Theo luận điểm trên, trong liệu pháp tập tính, tác giả dùng phương pháp khử điều kiện để chữa nghiện heroin bằng các kỹ thuật tăng cường dương tính và âm tính (khen thưởng, gây ghét sợ).

Như vậy có thể nhận định nghiện chất dạng thuốc phiện là một trạng thái nghiễm độc chất dạng thuốc phiện mạn tính xuất hiện theo cơ chế phản xạ có điều kiện thực thi, trên một người có khuynh hướng lạm dụng chất. Và các phương pháp khử điều kiện của liệu pháp tập tính có thể đóng góp một phần vào kết quả điều trị trạng thái thèm và nhớ chất dạng thuốc phiện vô cùng dai dẳng này.

II. Biểu hiện lâm sàng

1. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc cấp: chất dạng thuốc phiện (thuốc phiện, morphine, codeine, heroin…) có thể được sử dụng theo đường uống, hút, hít qua mũi, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Chất dạng thuốc phiện gây nghiện, gây khoái cảm nhất là khi sử dụng qua đường tiêm chích. Các triệu chứng kết hợp khác bao gồm: cảm giác người nóng lên, mạnh hơn ở các đầu chi, khô miệng, ngứa ngáy ở mặt (chủ yếu ở mũi), đỏ bừng mặt. Triệu chứng ban đầu biểu hiện bằng một giai đoạn yên dịu, ngủ gật.

Đối với những người sử dụng chất dạng thuốc phiện lần đầu hoặc thỉnh thoảng có thể có loạn khí sắc, buồn nôn và nôn.

Các biểu hiện cơ thể của chất dạng thuốc phiện bao gồm: suy hô hấp, co đồng tử, co các cơ trơn, vòng (co các cơ thắt), giảm huyết áp, giảm nhịp tim, giảm thân nhiệt. Biểu hiện suy hô hấp có ngay lập tức phụ thuộc vào mức độ ở não và phụ thuộc vào mức tương tác thuốc với phenothiazine và các thuốc MAOI (Monoamine oxidase inhibitor).

Các biểu hiện tâm thần: gây lơ ngơ, khoái cảm, ngây ngất, giảm đau, nó còn có tác dụng như một chất giải lo âu mạnh và chống trầm cảm. Điều này lý giải phần nào tính chất đồng bệnh lý giữa rối loạn lo âu và rồi loạn trầm cảm với lạm dụng chất dạng thuốc phiện.

Đặc biệt, để đạt được hiệu quả như trước người bệnh phải tăng liều sử dụng.

2. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc mạn tính chất dạng thuốc phiện

Nghiện chất dạng thuốc phiện thực chất là một trạng thái nhiễm độc mạn tính chất dạng thuốc phiện. Các trạng thái cơ bản của nghiện chất dạng thuốc phiện (dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần) đã được trình bày chi tiết ở chương I và II. Ở đây xin trình bày thêm những rối loạn cơ thể đi kèm theo trạng thái nhiễm độc mạn tính này:

– Các rối loạn tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón xen kẽ với đi rửa.

– Các rối loạn tiết niệu: đái khó, đái rắt.

– Các rối loạn thần kinh: nhức đầu, chóng mặt, run, giật cơ, dị cảm.

– Nhiễm khuẩn các loại: ghẻ lở, áp-xe, loét tĩnh mạch, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu, viêm gan B, C, đặc biệt là lây nhiễm HIV do sử dụng chung bơm kim tiêm.

3. Các giai đoạn của trạng thái cai heroin

– Giai đoạn đầu (6-8 giờ sau lần tiêm heroin cuối cùng): người bệnh bắt đầu ngáp, vã mồ hôi, chảy nước mắt, chảy nước mũi và lo lắng cao độ. Người bệnh cảm thấy thèm heroin, xuất hiện xung động tìm heroin mỗi lúc một tăng. Tiếp đến giãn đồng tử, nổi da gà, trong người cảm thấy lúc nóng, lúc lạnh, co thắt cơ, run, mất ngủ hay giấc ngủ không yên, luôn thức giấc.

– Giai đoạn tiếp theo (18-24 giờ sau lần tiêm heroin cuối cùng): xuất hiện buồn nôn hay nôn, mạch huyết áp, nhịp thở đều tăng, có thể có sốt nhẹ.

– Sau từ 24-48 giờ: xuất hiện đi rửa và trạng thái mất nước, dị cảm mạnh.

– sau 48-72 giờ: các triệu chứng ở các giai đoạn nói trên tăng đến đỉnh điểm sau đó giảm dần.

– Sau 7-10 ngày: mặc dù không điều trị, các triệu chứng nêu trên cũng dần dần biến mất. Một số rối loạn chức năng nhẹ có thể còn tồn tại nhiều tháng ở một số trường hợp.

4. Các tác dụng không mong muốn

Thường gặp là ngủ gà, lú lẫn, nôn, buồn bôn, táo bón. Cũng có thể thấy yên dịu, trạng thái kích thích, ác mộng (đặc biệt ở người già có thể có ảo giác), suy hô hấp, tăng áp lực nội sọ, bí tiểu nhất là khi bị u xơ tuyến tiền liệt.

Có mối liên quan chặt chẽ giữa các rối loạn liên quan tới lạm dụng chất dạng thuốc phiện với sử dụng chung bơm kim tiêm gây lây truyền viêm gan B, C và HIV/AIDS và đặc biệt là tương tác với thuốc meperidine và các thuốc MAOIs, điều này có thể gây ra rối loạn nặng hệ thần kinh thức vật, kích động, hôn mê, co giật và tử vong.

Phản ứng dị ứng với các chất dạng thuộc phiện cũng có thể xảy ra sốc phản vệ, phù phổi cấp, và tử vong nếu bệnh nhân không được điều trị kịp thời và thích hợp.

5. Quá liều

Tử vong do sử dụng quá liều các chất dạng thuốc phiện thường gặp là do tác dụng gây ngừng thở của các chất dạng thuốc phiện. Triệu chứng quá liều bao gồm: thờ ơ, hôn mê, thở chậm, giảm thân nhiệt, giảm mạch, giảm huyết áp. Khi có biểu hiện bộ ba triệu chứng hôn mê, co đồng tử, suy hô hấp, thầy thuốc cần phải nghĩ ngay lập tức tới quá liều chất dạng thuốc phiện. Thầy thuốc phải khám tìm dâu vết tiêm chích ở mọi chỗ trên cơ thể mà bệnh nhân có thể tiêm chích kể cả tĩnh mạch dương vật.

– Xử trí khi có biểu hiện quá liều

  • Tạo thông thoáng đường thở, duy trì các chỉ số sống bình thường.
  • Tiêm tĩnh mạch Naloxone 0,4 mg, liều này có thể lặp lại 4-5 lần trong 30-45 phút đầu tiên. Bệnh nhân có thể tỉnh trở lại nhưng vì thời gian bán hủy của naloxone ngắn nên bệnh nhân có thể lại quay lại tình trạng ban đầu trong 4-5 giờ, nên cần theo dõi chặt chẽ. Con cơ giật có thể gây ra quá liều meperidine và có thể dự phòng bằng naloxone. Cần thận trọng khi chỉ định naloxone tránh gây ra hội chứng cai sau đó.

III. Tác hại

Chất dạng thuốc phiên nói chung và heroin nói riêng là một loại gây nghiện mạnh, gây dung nạp nhanh và mạnh, gây lệ thuộc cơ thể cũng như lệ thuộc tâm thần, gây nhiễm độc cấp và mạn. Việc điều trị cũng gặp rất nhiều khó khăn do tỉ lệ tái nghiện cao.

Do các đặc tính vừa nêu trên, người nghiện lúc đầu chủ hút, hít heroin mỗi ngày 1 lần nhưng càng về sau liều lượng ngày càng tăng cao, số lần sử dụng cũng phải tăng thêm. Rồi chuyển sang chích mới có thể đạt được hiệu quả như ban đầu. Vài giờ sau khi sử dụng ngươi fnghieenj thấy thoải mái dễ chịu và tiếp sau đó lại cảm thấy thiếu thuốc, thèm thuốc và lại đi tìm heroin. Sau khoảng 6-8 giờ nếu không có heroin các triệu chứng cơ thể của hội chứng cai bắt đầu xuất hiện buộc người nghiện bằng mọi giá phải tìm cho kỳ được heroin. Cứ vậy người nghiện không còn thời gian để làm việc khác. Tác hại của nghiện heroin được thể hiện trên nhiều mặt: sức khỏe, công việc, kinh tế, gia đình, xã hội.

1. Về sức khỏe

Người nghiện chán ăn dẫn đến gầy sút, sợ lạnh nên lười vệ sinh thân thể, dễ bị các bệnh da liễu, bệnh lao, các bệnh nhiễm khuẩn do tiêm chích không vô trùng (viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu…). Luôn có nguy cơ bị sốc thuốc do tiêm thuốc nhanh và quá liều nhằm tìm lại khoái cảm như trước. Đặc biệt dùng chung bơm kim tiêm và tình dục không an toàn dễ bị lây truyền các bệnh hoa liễu, viêm gan B, C và HIV/AIDS.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị thay thế bằng methadone (1997-2002), tỉ lệ viêm gian B và C trước khi vào điều trị là 41,17% (trên 68 bệnh nhân) và ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị duy trì bằng Naltrexone (2003-2007), tỉ lệ viêm gian B và C là 66,19% (trên 482 bệnh nhân).

Về mặt tâm thần nghiện heroin thường gây biến đổi nhân cách theo hướng xấu do ảnh hường của nhóm bạn nghiện: thiếu kiềm chế cảm xúc, thường xuyên xung đột với gia đình, lừa dối mọi người, không quan tâm tới con cái, từ bỏ mọi ham muốn sở thích trước kia, thiếu tinh thần trách nhiệm, thường xuyên ở trong tình trạng nhiễm độc heroin (tâm thần lơ mơ, đi loạng choạng, dễ bị tai nạn hoặc gây tai nạn cho người khác). Ngoài ra còn có thể có các rối loạn tâm thần khác như lo âu, trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác…

2. Về công việc

Do phần lớn thời gian dành cho việc tìm kiếm và sử dụng heroin nhằm giải quyết tình trạng đói thuốc, người nghiện luôn chểnh mảng, không tập trung vào công việc và học tập, không tuân thủ giờ giấc, nội qui nên dẫn đến mất việc hoặc phải bỏ học. Nghiên cứu của chúng tôi trên nhóm bệnh nhân được điều trị duy trì bằng methadone (68 bệnh nhân) cho thấy: trước nghiện 78,4% có nghề nghiệp hoặc đi học nhưng bị nghiện, 72,5% không nghề nghiệp hoặc bỏ học. Ở nhóm naltrexone (482 bệnh nhân) trước nghiện 55,81% có nghề nghiệp hoặc đi học, nhưng khi bị nghiện 58,71% không nghề nghiệp hoặc bỏ học. Điều này chứng tỏ rằng có ít nhiều khả năng vì không có việc làm, giao du với bạn xấu rồi dẫn tới nghiện ma túy. Nhưng chắc chắn nghiện ma túy tất yếu sẽ dẫn tới mất việc làm.

3. Về kinh tế

Số tiền người nghiện phải chi cho heroin ngày càng nhiều do phải tăng liều và tăng số lần sử dụng trong khi thu nhập từ lao động ngày càng giảm, thậm chí không kiếm ra tiền. Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn tới chỗ lừa dối mọi người để có tiền tiêu cho heroin. Tiếp theo đó là bán đồ đạc cá nhân rồi đồ đạc của gia đình. Khi không còn gì để bán nữa thì ăn cắp, ăn trôm ngoài xã hội, cướp giật, giết người, mại dâm, buôn bán ma túy… Cũng theo nghiên cứu của chúng tôi ở 68 bệnh nhân trước điều trị methadone phải chi trung bình 300.000 đồng/ngày cho ma túy so với mức lương tối thiểu vào thời điểm đó là 180.000 đồng/ tháng.

4. Về gia đình

Người nghiện thường xuyên nói dối, thức đêm, ngủ ngày, ăn kém, không tôn trọng giờ giấc sinh hoạt trong gia đình, luôn đi đêm về hôm, thay đổi thái độ với người trong gia đình, không hoàn thành trách nhiệm của mình với các thành viên khác trong gia đình.  Kết quả một mẫu nghiên cứu của chúng tối trên 68 bệnh nhân: theo báo cáo của gia đình có tới 89% bệnh nhân có hành vi vi phạm trong gia đình ở các mức độ khác nhau như từ nói dối để có tiền, bán đồ dùng cá nhân, lấy tiền của gia đình, bán đồ dùng của gia đình tới cưỡng ép người thân để có tiền mua ma túy. Ở một mẫu nghiên cứu khác trên 482 bệnh nhân, theo báo cáo của gia đình có tới 84,65% bệnh nhân vi phạm ở các mức dộ như đã nói ở trên.

5. Về mặt xã hội

Một số người nghiện bắt đầu buôn bán chất gây nghiện để có tiền mua heroin. Số khác có thể lao vào từ mại dâm, ăn trộm, ăn cắp, đến tham gia các băng nhóm tội phạm, cướp giật, giết người. Một số người nghiện thuộc gia đình có tài sản, đầu tiên bán đồ dùng, rồi lừa dối người nhân để có tiền, rồi lấy trộm tiền của gia đình, bán đồ đạc của gia đình. Số khác được thừa kế tài sản lớn cũng dần bán đi hết để chi cho heroin và kết cục là sống ngoài lề xã hội.

Theo báo cáo của cục AIDS Bộ Y Tế (2010) hiện cả nước có trên 200.000 người nhiễm HIV/AIDS có hồ sơ kiểm soát, trong đó trên 60% liên quan tới tiêm chích chất gây nghiện. Đây là con số hết sức báo động, nó không chỉ có vấn đề tội phạm mà còn có nguy cơ bùng phát đại dịch HIV/AIDS ra toàn xã hội.

Những thiệt hại do người nghiện gây ra cho xã hội bao gồm nhiều mặt:

– Về kinh tế: giảm sút nguồn lực lao động, gây phí tổn to lớn trong công tác cai nghiện và chống tái nghiện cũng như công tác dự phòng.

– Về trật tự an toàn xã hội: bi đe dọa do các hành vi tội phạm rất đa dạng (buôn bán chất gây nghiện, lừa đảo, cướp giật, băng nhóm xã hội đen…).

– Về mặt văn hóa: hủy hoại nếp sống lành mạnh trong các gia đình và trong cộng đồng.

Một thí dụ để minh họa: thời gian qua thành phố Hồ Chí Minh đã đưa đi điều trị tập trung khoảng 25.000 người nghiện với thời hạn 5 năm. Vấn đề này có nhiều lý do khác nhau nhưng lý do bức xúc nhất có thể là vấn đề tội phạm liên quan tới sử dụng chất gây nghiện đã ảnh hưởng lớn tới trật tự an toàn của thành phố cũng như tới đầu tư nước ngoài vào thành phố.

CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY

CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY

I. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY (THEO DSM IV):

A. Các dấu hiệu:

Một các sử dụng ma túy không thích hợp gây ra trạng thái suy yếu hay đau khổ có ý nghĩa về mặt lâm sàng, biểu hiện bằng 3 (hay nhiều hơn) các dấu hiệu dưới đây xảy ra trong vòng 12 tháng.

1. Trạng thái dung nạp: biểu hiện bằng 1 trong 2 dấu hiệu sau đây:

a. Cần tăng liều rõ rệt để dặt được sự nhiễm độc hoặc hiệu quả mong muốn.

b. Hiệu quả giảm rõ rệt với việc sử dụng cùng liều như trước.

2. Hội chứng cai: biểu hiện bằng 1 trong 2 dấu hiệu sau đây

a. Ngừng sử dụng hoặc giảm mạnh liều sẽ xuất hiện hội chứng cai.

b. Dùng lại chất và liều đã dùng dể tránh hội chứng cai.

3. Các chất thường được dùng với liều lớn hoặc quá lớn trong một thời gian dài hơn dự định.

4. Mong muốn dai dẳng hoặc cố gắng không thành trong việc ngừng hoặc kiểm soát việc sử dụng chất gây nghiện.

5. Dành phần lớn thời gian để tìm kiếm chất gây nghiện.

6. Mọi hoạt động xã hội, nghề nghiệp hay giải trí quan trọng bị từ bỏ hoặc giảm sút do sử dụng ma túy.

7. Vẫn tiếp tục sử dụng chất gây nghiện bất chấp biết được hậu quả gây ra dai dẳng hay tái diễn ra cho cơ thể và tâm thần của chất gây nghiện (ví dụ: vẫn tiếp tục uống rượu bất chấp việc biết được nó sẽ gây ra loét dạ dày).

Chất gây phụ thuốc cơ thể có điểm 1 và 2.

Chất không gây phụ thuộc cơ thể không có điểm 1 và 2.

B. Sáu đặc trưng tiến triển của nghiện ma túy:

1. Thuyên giảm nhanh, hoàn toàn

Trong thời gian từ 1 đến 12 tháng không có bất cứ tiêu chuẩn nào về nghiện ma túy hoặc lạm dụng ma túy.

2. Thuyên giảm nhanh, một phần

Trong thời gian từ 1 đến 12 tháng ít nhất có 1 tiêu chuẩn nghiện hoặc lạm dụng ma túy.

3. Thuyên giảm chậm, hoàn toàn

Vào bất cứ thời điểm nào trong ít nhất 12 tháng không có bất cứ tiêu chuẩn nào về nghiện ma túy hoặc lạm dụng ma túy.

4. Thuyên giảm chậm, một phần

Vào bất cứ thời điểm nào trong ít nhất 12 tháng không có đầy đủ các tiêu chuẩn về nghiện ma túy tuy nhiên có ít nhất một tiêu chuẩn nghiện hoặc lạm dụng ma túy.

Các đặc trưng sau đây giải thích nếu đối tượng đang được điều trị đồng vận hoặc trong môi trường bảo vệ đặc biệt.

5. Đang được điều trị bằng thuốc đồng vận

Đặc trưng này được sử dụng nếu đối tượng đang được điều trị bằng thuốc đồng vận và không có bất cứ tiêu chuản nào về nghiện hoặc lạm dụng ma túy ít nhất trong tháng vừa qua. Mục này cũng bao gồm các đối tượng đang được điều trị nghiện bằng thuốc đồng vận một phần hoặc đối vận.

6. Đang ở trong môi trường bảo vệ đặc biệt

Đặc trưng này được sử dụng nếu đối tượng ở trong môi trường không có chất gây nghiện (như ở trong tù, trung tâm cai nghiện…) và không có bất cứ tiêu chuẩn nào về nghiện hoặc lạm dụng chất ít nhất trong tháng vừa qua.

II. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN LẠM DỤNG MA TÚY (THEO DSM IV):

A. Một cách lạm dụng ma túy về mặt lâm sàng được biểu hiện ít nhất một trong các dấu hiệu dưới đây.

1. Sử dụng tái diễn chất gây nghiện đưa đến thất bại trong việc thực hiện các vai trò quan trọng trong các nhiệm vụ ở công sở, ở trường hoặc ở nhà (Ví du: thường vắng nhà hoặc hiệu suất công việc giảm do sử dụng ma túy, bị đình chỉ hoặc đuổi khỏi trường học, không quan tâm đến con cái, nhà cửa).

2. Sử dụng tái diễn chất gây nghiện trong những tình huống nguy hiểm cho cở thể (Ví dụ: lái xe hoặc vận hành máy trong tình trạng không tỉnh táo do sử dụng ma túy gây ra).

3. Có các vấn đề với pháp luật do liên quan tới sử dụng tái diễn ma túy (Ví dụ: bị bắt giữ vì rối loạn hành vi do sử dụng ma túy).

4. Tiếp tục sử dụng ma túy mặc dù còn tồn tại dai dẳng hay tái diễn các vấn đề xã hội hay giao tiếp do sử dụng ma túy (Ví dụ: cãi cọ với vợ về những hậu quả của nhiễm độc, của ẩu đả).

B. Các triệu chứng trên không bao giờ đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy.

III. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NHIỄM ĐỘC MA TÚY (THEO DSM IV):

1. Xuất hiện một hội chứng đặc trưng cho một chất có thể phục hồi do mới sử dụng (hoặc tiếp xúc) chất đó.

Các chất khác nhau có thể gây ra các hội chứng tương tự hoặc đặc trưng riêng.

2. Thay đổi hành vi hoặc tâm lý không thích hợp, do tác dụng của chất đó trên hệ thần kinh trung ương (VD: hung hăng, khí sắc không ổn định, rối loạn nhận thức, phán đoán sai lệch, rối loạn chức năng xã hội hoặc nghề nghiệp), xuất hiện trong hoặc thời gian ngắn sau khi sử dụng chất.

3. Các triệu chứng không do một bệnh cơ thể hoặc một rối loạn tâm thần khác.

IV. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG CAI (THEO DSM IV):

1. Xuất hiện một hội chứng đặc trưng của một chất do ngừng (hoặc giảm) sử dụng nhiều và kéo dài chất đó.

2. Hội chứng đặc trưng của chất gây ra một trạng thái suy yếu hay đau khổ có ý nghĩa về mặt lâm sàng trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp, hoặc trong những lĩnh vực quan trọng khác.

3. Các triệu chứng không do một bệnh cơ thể hoặc một rối loạn tâm thần khác gây ra.

V. CÁC DẤU HIỆU SỚM CỦA NGHIỆN MA TÚY:

Giúp phát hiện sớm và cần phải quan tâm "săn sóc đặc biệt".

1. Dấu hiệu chung

– Xa lánh, từ chối tiếp xúc với nhiều người.

– Không quan tâm đến ăn mặc, ngoại hình.

– Thay đổi bạn.

– Nhiều biến đổi cảm xúc (lo âu, trầm cảm, hung bạo…)

– Mất hứng thú với các hoạt động giải trí, thể thao v.v…

– Thay đổi tính cách.

– Cười bất thường.

– Hành vi nói dối.

– Nhiều vết bẩn trên người và quần áo bốc mùi khó chịu…

2. Ở trường

– Giảm tham gia các hoạt động ở trường.

– Bỏ học.

– Ăn cắp ở trường.

– Thay đổi thái độ sai khi nghỉ giải lao hoặc sau khi vào nhà vệ sinh ra.

3. Ở nhà:

– Ăn kém.

– Không tôn trọng giờ giấc, thường về nhà muộn.

– Thường vắng nhà.

– Thay đổi thái độ ứng xử với người thân.

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

GIỚI THIỆU VỀ TƯ VẤN

Tác giả

  • Tiến sĩ Robert Ali, Giám đốc trung tâm Hợp tác nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới về Điều trị nghiện ma túy và rượu, Đại học Adelaide, Australia.
  • Thạc sĩ Vương Thị Thu Hương, Quản lí chương trình, FHI Việt Nam
  • Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Tố Như, Quản lí chương trình, FHI Việt Nam
  • Thạc sĩ Phạm Thị Hương, nguyên Trưởng bộ phận Can thiệp trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao, Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kì (CDC) tại Việt Nam
  • Tiến sĩ Kelvin Mulvey, nguyên Cố vấn kĩ thuật cấp cao, FHI Việt Nam
  • Thạc sĩ, Bác sĩ Hoàng Nam Thái, Cán bộ chương trình, FHI Việt Nam
  • Hiệu đính: Thạc sĩ, Bác sĩ Hoàng Nam Thái

Mục tiêu bài học

  • Nêu được định nghĩa về tư vấn
  • Hiểu được bối cảnh của tư vấn
  • Hiểu được những quan niệm sai lầm hiện nay về sử dụng ma túy (SDMT) và người SDMT
  • Phân biệt được tư vấn với giáo dục sức khỏe
  • Nêu được phẩm chất của một tư vấn viên giỏi

I. Bối cảnh tư vấn

1. Người sử dụng ma túy:

  • Thường bị xã hội kỳ thị, phân biệt đối xử và không được cộng đồng chấp nhận.
  • Thường bị coi như là tội phạm, là đồ bỏ đi và là mục tiêu để xã hội trút lên mọi sự giận dữ và sợ hãi.

2. Người SDMT thường lo lắng về điều gì?

  • Bị phân biệt đối xử
  • Tương lai
  • Sợ người khác nói về việc họ SDMT
  • Thiếu tiếp cận với điều trị
  • Cho rằng tư vấn cũng chẳng thay đổi được gì
  • Thiếu chăm sóc điều trị khi ốm đau (đặc bieeth là HIV/AIDS)

II. Những hiểu lầm về sử dụng ma túy

  • Những người sử dụng ma túy là những người "yếu kém về đạo đức"
  • "Nghiện là vô phương cứu chữa"
  • "Tất cả những người SDMT đều là những người nghiện ma túy"
  • "Tất cả những người SDMT đều là tội phạm"

III. Tư vấn là gì?

Tư vấn là một quá trình trao đổi tương tác giữa tư vấn viên và khách hàng nhằm giúp khách hàng tự tìm hiểu về những khó khăn của họ một cách bảo mật và nâng cao năng lực cho khách hàng để họ có thể tự giải quyết những khó khăn đó.

IV. Mục đích của tư vấn

  • Giúp khách hàng tự chịu trách nhiệm với cuộc đời họ, bằng cách:

    • Phát triển khả năng ra quyết định một cách khôn ngoan và thực tế
    • Hỗ trợ họ thay đổi hành vi để đạt được những kết quả mong muốn
    • Cung cấp thông tin để ra quyết định chín chắn
  • Tư vấn có thể thực hiện với từng cá nhân, tư vấn cho cặp vợ chồng, tư vấn cho nhóm hoặc tư vấn cho gia đình.

V. Tư vấn không phải là

  • Chỉ bảo hoặc ra lệnh
  • Một buổi nói chuyện
  • Một buổi tra hỏi
  • Một buổi thú tội
  • Một buổi cầu nguyện

VI. Sự khác biệt giữa tư vấn và giáo dục sức khỏe

Tư vấn Giáo dục sức khỏe
Bảo mật Thường là không bảo mật
Thường là "một người với một người" hoặc là với một nhóm nhỏ Nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn
Phát sinh những tình cảm mạnh mẽ đối với cả khách hàng và tư vấn viên Tình cảm ở mức trung bình
Tư vấn viên chú ý lắng nghe và phản hồi Người GDVSK nói nhiều hơn
Tập trung, cụ thể và có mục tiêu Chung chung
Thông tin được dùng để thay đổi thái độ và khuyến khích thay đổi hành vi Thông tin được dùng để giáo dục và nâng cao kiến thức
Tập trung vào vấn đề Tập trung vào nội dung
Dựa trên các nhu cầu của khách hàng Dựa trên các nhu cầu của y tế công cộng

 

VII. Những phẩm chất của một tư vấn viên giỏi

  • Có óc sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú
  • Thực tế
  • Tôn trọng khách hàng
  • Chú trọng vào hành động
  • Không áp đặt quan điểm hoặc mối quan tâm của mình lên khách hàng

VIII. Những điều cần tránh

  • Lên mặt đạo đức
  • Ra lệnh
  • Đe dọa
  • Tranh cãi
  • Phản đối
  • Suy diễn thái quá
  • Đồng cảm
  • Phán xét

IX. Tóm tắt

  • Tư vấn giúp khách hàng tự chịu trách nhiệm với cuộc đời họ.
  • Dịch vụ tư vấn có thể dành cho cá nhân, cặp vợ chồng hoặc cả gia đình.
  • Một tư vấn viên giởi cần có tính sáng tạo, có trí tưởng tượng phong phú, có thuong pháp thực tế, thể hiện sự tôn trọng khách hàng, chú trọng vào hành động và không áp đặt quan điểm một cách chủ quan.
  • Tư vấ có bản chất khác hẳn so với giáo dục sức khỏe

 

TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

  1. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 1
  2. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 2
  3. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 3
  4. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 4
  5. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 5
  6. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 6
  7. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 7
  8. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 8
  9. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 9

PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ

PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ

A – RỐI LOẠN TÂM – SINH LÝ TRÊN  NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

          Ma túy là những chất tác động tâm thần mà người lạm dụng sẽ gây cho mình sự lệ thuộc. Do tình trạng lệ thuộc đó, người sử dụng ma túy sẽ bị những biến đổi về khí sắc, cảm xúc, nhận thức, hành vi do những tổn thương trong não. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khingưng sử dụng ma túy.

Người nghiện ma túy bị suy giảm khả năng xét đoán, khả năng xử lý thông tin, mất khả năng tự chủ, khả năng hiểu biết để hướng đến một cuộc sống lành mạnh. Người nghiện hình thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Liệu pháp điều trị – phục hồi là một vấn đề hết sức khó khăn vì người bệnh bị những rối nhiễu tâm sinh lý thực tổn – lú lẫn tâm trí – phản ứng loạn tâm thần – rối loạn sinh hoạt – trạng thái hưng trầm nhược – rối loạn hành vi – rối loạn tập trung – biểu hiện lo hãi – thiếu tự tin, kết hợp với các rối loạn nhân cách – rối loạn tâm thần và đặc biệt là hội chứng hồi tưởng dẫn đến thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó … Đa số người nghiện ma túy đều được xếp vào những người có vấn đề tâm thần.

         Sự rối loạn trên nguyên nhân từ nhiều lý do khác nhau : Tâm – sinh lý người nghiện, hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đình và tác động củaxã hội. Việc sử dụng, lệ thuộc, rồi lạm dụng ma tuý dẫn đến tình trạng nghiệnlà triệu chứng cuối cùng của một quá trình dài đầy rối loạn trong một bối cảnh đa phương diện, do đó, việc điều trị phục hồi người nghiện ma tuý phải là một phương pháp điều trị toàn diện bao gồm nhiều  lãnh vực Y tế – Tâm lý – Xã hội… Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma tuý vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

          Để giải quyết những vấn đề này, ngoài vấn đề sử dụng thuốc – cần có những liệu pháp gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giáo dục tâm lý – xã hội lâu dài cho người nghiện nhằm mục đích chuyển đổi thói quen, nếp sống, nếp nghĩ, phục hồi hệ thống não bộ và giải quyết các mâu thuẫn và các chấn thương tâm l‎ý của đối tượng.

          Nếu được điều trị và phục hồi đúng cách, người nghiện sau khi cai nghiện sẽ bước vào cuộc sống với những thói quen tốt, những nhận thức đúng đắn – biết tự trọng và tự tin hơn để với sự giúp đỡ của cộng đồng sẽ có thể từng bước, bước đi chính trên đôi chân của mình.

          Từ những cơ sở trên cần phải có một chiến lược điều trị dài hạn nhằmgọt dũa hành vi nhân cách, điều chỉnh nhận thức – quan điểm sống tạo những thói quen tốt cho đối tượng trong một môi trường cộng đồng trị liệu dài hạn thông qua các hoạt động tư vấn – giáo dục – lao động trị liệu – huấn nghiệp trị liệu – hoạt động trị liệu.

Đối với những người nghiện nhóm OMH (thuốc phiện – morphine – heroine) đểngười nghiện không còn thèm nhớ và tìm kiếm ma túy, nếu được sử dụngkết hợp với thuốc hổ trợ chống tái nghiện Naltrexone kết quả rất khả quan.

B – MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

I- ĐỊNH NGHĨA:

  1- MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU:  

        Môi trường trị liệu là sử dụng một cách khoa học môi trường nhằm mục đích trị liệu, tạo nên những thay đổi trong nhân cách của bệnh nhân. Danh từ môi trường trị liệu lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà tâm thần học BETTLEHEIM và SYLVERTER vào cuối những năm 1930 đầu những năm 1940 để miêu tả một môi trường kế hoạch khoa học nhằm mục đích thay đổi nhân cách của bệnh nhân.

Khi một bênh nhân bị căng thẳng, bức xúc, mất ngủ – người thầy thuốc khuyên bệnh nhân hãy nghỉ ngơi ở những nơi yên tĩnh. Bạn có thể lên cao nguyên hoặc về vùng biển một thời gian. Nơi yên tĩnh, cao nguyên, biển chính là thuốc để điều trị các chứng căng thẳng, bức xúc, mất ngủ của bạn. Sử dụng môi trường để điều trị bệnh được gọi là môi trường trị liệu.

       Những khái niệm về môi trường trị liệu : Những cuộc nghiên cứu đã thực hiện đầu tiên về môi trường trị liệu hầu hết sử dụng những lý thuyết về tâm thần hay về tâm lý bệnh nhân để xác định loại môi trường nào là có tính cách trị liệu tốt nhất. Những nổ lực được thực hiện để tìm kiếm một môi trường tương tác giữa các cá nhân, được chi tiết hoá kỷ lưỡng, đặt nền tảng trên những nhu cầu tâm năng của một bệnh nhân đã được chẩn đoán kỹ càng. Mục đích của phương pháp này là cố gắng tìm ra những cách thức điều trị dựa vào thái độ và nhận thức của nhân viên cũng như của bệnh nhân.

        + Năm 1944 STANTON và SCHWARTZ cho rằng môi trường có thể là cách điều trị chủ yếu, cũng như có vai trò ảnh hưởng nâng đỡ hay bổ túc cho các hình thức điều trị khác. Môi trường có vai trò ảnh hưởng đến an sinh, hạnh phúc chung của cộng đồng.

        + Một tác giả khác là CUWDELL đã miêu tả tác động của các giá trị văn hoá, những chuẩn mực và phong tục của môi trường có thể ảnh hưởng trên sự săn sóc bệnh nhân.

        + Năm 1958 các tác giả FREEMAN, CAMERON đã cho rằng có mối liên hệ giữa tâm lý cá nhân và những đặc điểm của môi trường .

        + Mặc dầu đã thu nhập được nhiều kết quả trên đây, nhưng cho đến năm 1962 qua công  trình nghiên cứu của CUMMING đã đặt lại vấn đề trong việc đánh giá tác động của môi trường, vì môi trường có thể mang lại những thay đổi đặc thù trong hành vi của bệnh nhân. Các môi trường trị liệu có thể khác nhau tùy theo cách tổ chức, nhưng căn bản đều có những điểm chung trong các phương pháp trị liệu đối với các bệnh nhân điều trị nội trú. Môi trường trị liệu nhận định rằng:

1/             Bệnh nhân có những sức mạnh và một phần nhân cách không bị xung đột. Những sức mạnh này được vận dụng để phát huy tối ưu bằng cách thiết lập một môi trường nội trú khoa học.

2/             Bệnh nhân có những khả năng to lớn trong việc tự điều chỉnh chính mình, trên những bệnh nhân khác và mức độ nào đó có ảnh hưởng trên cơ cấu tổ chức của bệnh viện.

3/              Tất cả các nhân viên của trung tâm có một khả năng rất lớn để tác động đến việc trị liệu cho người bệnh.

2-  CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

Theo Crack, khác với môi trường trị liệu, cộng đồng trị liệu là một loại môi trường trị liệu đặc biệt trong đó toàn cơ cấu xã hội của đơn vị điều trị đều tham gia tiến trình giúp đỡ bệnh nhân.

      Theo Jones, môi trường cộng đồng trị liệu được phân biệt với các chương trình trị liệu khác là do chương trình này huy động toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân – thân nhân bệnh nhân và toàn bộ tập thể bệnh nhân và nhân viên đều tập trung vào mục đích điều trị. Như vậy, bệnh nhân cũng có một vị trí trong  chương trình điều trị này qua thay đổi tư thế của mình. Trong chương trình cộng đồng trị liệu, nhân viên  phải khuyến khích bệnh nhân tích cực tham gia trong kế hoạch săn sóc cho chính mình. Đây là một phương pháp rất khác với vai trò thụ động chữa trị trong bệnh viện cổ điển, quy ước trong đó chỉ có vai trò bác sĩ và bệnh nhân. Jones cho rằng điểm đặc biệt của chương trình này là được đặt trên sự giao lưu, giao tiếp tự do trong trung tâm với các nhân viên và giữa các bệnh nhân với nhau. Mục đích của sự giao lưu tự do này là tìm ra được hành vi nào, ‎ý kiến nào, nhận xét nào, những vai trò nào  thích hợp để thay đổi nhận thức, thái độ,  lòng tin của bệnh nhân và những vấn đề nào không thích hợp cho điều trị (anti therapeutic).

      Như vậy, cộng đồng trị liệu có tính chất dân chủ, tự do bàn bạc, thảo luận khác với phương pháp thường dùng là đặt vai trò trị liệu đặc biệt của người bác sĩ lên trên và cách điều trị phục hồi tuân thủ những quy định thứ lớp bắt buộc.

      Trong mô hình cộng đồng trị liệu, môi trường thiết yếu là môi trường linh hoạt, những người tham gia không có vai trò chuyên biệt rõ ràng. Những hoạt động của bệnh nhân được cá thể hóa rất cao và sự tham gia của bệnh nhân là hoàn toàn tự nguyện. Một điều ngoại lệ đặc biệt là MỖI NGÀY PHẢI CÓ MỘT BUỔI HỌP CỘNG ĐỒNG: tất cả nhân viên và những bệnh nhân được khuyến khích phải hội họp, trách nhiệm tập thể được nhấn mạnh, những người tham dự được rút tỉa kinh nghiệm, học tập, sửa sai những hành vi không tốt.

      Vai trò chính của nhân viên là giúp đỡ bệnh nhân đạt được những thấu hiểu mới, những sáng kiến, hành vi mới. Jones tin rằng một đơn vị điều trị lý tưởng cần phải được tự do điều hành trong cách nào tốt nhất, với hướng tiếp cận riêng của mình. Tuy nhiên, Jones cũng đưa ra những yếu tố mang tính đặc trưng của cộng đồng trị liệu: đó là hội họp cộng đồng hàng ngày như là một phương thức để thảo luận đời sống hàng ngày của Trung Tâm nhằm đóng góp, giải quyết các thắc mắc, các yêu cầu của các bệnh nhân.

Một yếu tố nữa của cộng đồng trị liệu là quản lý bệnh nhân. Mục đích của sự quản lý bệnh nhân là để bàn bạc, thảo luận một cách chi tiết, cụ thể về trách nhiệm và quyền lợi của từng bệnh nhân như: luân phiên dọn dẹp và làm vệ sinh các phòng. Tất cả mọi quyết định cuối cùng phải được thống nhất lại trong các phiên họp cộng đồng. Jones cho rằng sinh hoạt nhóm nhằm ôn lại, kiểm điểm lại là cần thiết cho sự uốn nắn, giáo dục tại chỗ (on-the ward training) đối với bệnh nhân. Trong buổi họp, các thành viên Trung Tâm phải xem xét những đáp ứng riêng,  mong đợi riêng, thành kiến riêng của mọi người. Một đặc trưng quan trọng khác của môi trường cộng đồng trị liệu là những cơ hội học cách sống trong môi trường cộng đồng trị liệu. Như vậy, môi trường cộng đồng trị liệu là môi trường học sống cho những bệnh nhân học cách đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày. Theo Jones – phản hồi lại, là một trong những khái niệm căn bản, quan trọng nhất của cộng đồng trị liệu nhằm đạt được sự tiến bộ cho toàn thể cộng đồng, không có điều gì được coi là thuần túy bí mật trong môi trường cộng đồng trị liệu. Những nhân viên của Trung tâm phải nhạy cảm trong vai trò của mình- phải biết phản hồi lại những thông tin trong cộng đồng lên cấp trên. Mặc dù ngày nay những khái niệm sơ khởi của Jones về cộng đồng trị liệu đã được nhìn nhận nhưng thực hiện dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau nhưng những nét cơ bản vẫn không thay đổi.

Nguyên tắc đầu tiên của cộng đồng trị liệu là trong môi tường trị liệu có sự liên quan lẫn nhau trong sự săn sóc nội trú. Không có ai nghi ngờ rằng ảnh hưởng của môi trường ảnh hưởng đến hành vi và cảm xúc. Năng động nhóm luôn luôn tác động nhằm tập trung về trách nhiệm – phục hồi – khuyến khích sự phát triển. Sự điều hành toàn diện là rất hiệu năng.

Những nhà điều trị đã sớm nhận được sức mạnh của động lực nhóm (dynamic group) trong việc điều chỉnh hành vi và củng cố các quy tắc của cộng đồng. Ngày nay, trong môi trường điều trị cộng đồng, sức mạnh ấy không còn nằm ở cá nhân hay một nhóm nhỏ nữa mà nó là sức mạnh của một cộng đồng.

II- KẾT LUẬN:

Môi trường cộng đồng trị liệu không giống như môi trường cộng đồng mà chúng ta đang sống. Có một số những đặc tính khiến cho cộng đồng này trở nên độc đáo và không giống bất kỳ loại cộng đồng nào: đó chính là sự tổng hợp của các yếu tố: cơ cấu tổ chức, yếu tố con người, những quy định điều chỉnh mối quan hệ tương giao giữa các thành viên của cộng đồng và hệ thống chia sẻ thông tin đã tạo nên cộng đồng. Nó phải là: “Môi trường học tập”. Môi trường này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa các thành viên và không khí học tập. Kết quả môi trường cộng đồng trị liệu là tạo ra một số những ảnh hưởng nhất định đến trạng thái tâm tư tình cảm, nhận thức về đạo đức và xã hội của người nghiện. Môi trường cộng đồng trị liệu tạo ra trật tự và một lối sống có mục đích trong các thành viên của nó. Chính bởi vì môi trường trị liệu cộng đồng thường có được cơ sở vật chất  cũng như cách tổ chức tốt nên nó là môi trường trị liệu tốt đối với các đối tượng tham gia chương trình. Tóm lại:

Môi trường cộng đồng trị liệu nhằm mục đích:

–   Bạn có thể thay đổi và bộc lộ bản thân mình.

–   Động lực của nhóm sẽ giúp đỡ cho sự thay đổi đó.

–   Tất cả các thành viên của cộng đồng cần phải có trách nhiệm.

–   Tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác để đánh giá cảm xúc.

–   Phương pháp thực hiện bao gồm:

+   Quản lý giám sát hành vi.

+   Chuyển biến tâm tư – tình cảm.

+   Điều trị cắt cơn – bệnh cơ hội – bệnh tâm thần.

+   Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc nhằm phục hồi nhận thức – hành vi nhân cách – tinh thần trách nhiệm – điều chỉnh những rối loạn tâm – sinh lý cho người nghiện ma túy.

     

C – NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ:

Vì tính chất đa dạng của bệnh nghiện ma tuý nên nếu sử dụng một vài biện pháp cai nghiện thì không đảm bảo thoả mãn hết được mọi nhu cầu cho người nghiện mà phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp điều trị. Tuy nhiên vẫn có một số nguyên tắc cơ bản như sau :

I.     XÂY DỰNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG:

1. Tôn trọng lẫn nhau.

2. Có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Lòng biết ơn.

3. Tự tin vào giá trị bản thân.

4. Biết thương yêu và quan tâm  đến người khác.

5. Phối hợp trong công việc.

6. Trung thực – trách nhiệm – khiêm tốn – cởi mở.

7. Năng động sáng tạo – khả năng nhận thức tốt.

8. Tích cực lao động.

II.    XÂY DỰNG MỘT MÔI TRUỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN VÀ LÀNH MẠNH:

1-     Không ma tuý.

2-     Không có hành vi bạo lực hay đe dọa bạo lực.

3-     Không có hành vi tình dục.

4-     Không trộm cắp.

5-     Luôn luôn nhắc nhở và kiểm tra thực hiện các nguyên tắc cộng đồng đề ra.

6-     Đặt ra những quy định mới nếu thấy cần thiết.

III.    NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC:

1.    Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ ngày được giám sát chặt chẽ.

2.    Phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên.

3.    Có sự chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới và sự phản ánh kịp thời từ dưới lên.

4.    Đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định. Mọi hành vi được giám sát chặt chẽ và thường xuyên.

5.    Xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồng nhằm khuyến khích việc tích cực điều chỉnh hành vi.

6.    Phương pháp điều trị phải dựa trên nguyên tắc nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người nghiện.

IV.    NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

1.  Phương pháp điều trị không bao giờ được làm tổn thương đến nhân phẩm đối tượng và phải được xây dựng trên những hiểu biết sâu sắc về ma túy và người nghiện.

2. Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm nâng cao sức khoẻ nhằm điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi- nhân cách, giải quyết những vấn đề tâm lý, giáo dục, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu.

3. Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị.

4. Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

5. Đối tượng  cảm nhận được sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của đối tượng.

6. Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tinh thần.

7. Phải tạo được môi trường điều trị – phục hồi an toàn.

8. Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thực và tính cởi mở trong nguyên tắc cộng đồng đề ra.

V.    NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NHANH SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

1    Phải có những nguyên tắc giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần sử dụng đến vũ lực.

2    Phải có những hoạt động nhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị nhóm khác…).

3    Tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể  giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thực mà không lo ngại có sự chế diễu hay phản đối từ phía đối tượng khác.

4    Giúp đối tượng cũng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh qua biện pháp giáo dục tâm lý – xã hội cho dối tượng.

VI.     XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU:

1.        Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm.

2.        Đối tượng được nhóm, tổ chức phân công việc.

3.        Sử dụng nhóm đồng đẳng quản lý lẫn nhau.

4.        Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo, giao ban hay lịch phân công lao động để quản lý.

5.        Giám sát nghiêm ngặt tuân thủ các loại quy định, nguyên tắc của cộng đồng.

VII.     XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

1.     Kế hoạch điều trị:

–   Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.

–   Xây dựng một kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.

–   Kế hoạch này phải có những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.

–   Xác định những hoạt động diều trị cụ thể và chỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được  mục tiêu yêu cầu điều trị đề ra.

–   Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

2.    Theo dõi tiến độ điều trị của đối tượng theo kế hoạch đã đề ra: Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hơp đối tượng.

3.     Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng,  phân công người quản lý theo dõi.

4.    Nhận xét của nhân viên tư vấn về sự tiến bộ của đối tượng.

5.    Biên bản của những buổi tư vấn cá nhân, nhóm, gia đình.

6.    Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.

VIII.     XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

1.    Dựa trên các tiêu chuẩn đề ra để khen thưởng các học viên tích cực.

2.    Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng như : viết thư, tặng quà lưu niệm, biểu  dương trước tập thể…

3.    Đi dã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị.

4.    Cho về thăm gia đình.

     Việc khen thưởng này tùy thuộc vào từng hoàn cảnh trung tâm – trường – trại – địa phương.

 

D – CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ KẾT QUẢ

I.         NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NGƯÒI XỨNG ĐÁNG VÀ MẪU MỰC: Đôi ngũ điều trị phải làm thế nào để đối tượng tôn trọng. Họ phải là tấm gương sáng cho đối tượng để có thể ảnh hưởng giáo dục nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách của học viên.

       Người nghiện ma tuý thường thực hiện nhiều hành vi không tốt, nhưng họ ít thấy và hay biện minh cho bản thân mình, trong khi đó họ lại rất tinh ý và nhạy bén nhận xét những điều không tốt của người khác. Do đó, nếu nhân viên điều trị không gương mẫu khó có thể chuyển đổi đối tượng.

      Đối với đồng nghiệp nhân viên điều trị phải tuân thủ những quy định, những mối quan hệ thân thiện.

      Đối với đối tượng nhân viên điều trị phải thương yêu và đồng cảm nhưng cũng phải xác định một ranh giới không thể vượt qua của người quản lý và đối tượng.

II.       MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI ĐẢM BẢO KHÔNG CÓ MA TUÝ HOẶC CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN KHÁC:

           Một môi trường trị liệu để lọt ma tuý vào sẽ gây lây lan bệnh tật, tinh thần học viên không bình ổn, thiếu quyết tâm cai nghiện, dễ bức xúc phá vỡ chương trình điều trị.

          Đây là yếu tố tiên quyết vì nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ phá huỷ toàn bộ kế hoạch, hệ thống hoạt động của Trung Tâm.

III.      MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ MỘT NƠI AN TOÀN KHÔNG CÓ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC: mọi hoạt động diễn ra một lối sống không có ma tuý, không có cảnh ức chế nhau, nơi mà hành vi của một người luôn được các người khác xem xét, góp ý mà không hề do một áp lực nào, một ý đồ xấu nào và được giáo dục liên tục về một nếp sống nề nếp chuẩn mực.

IV.       MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NƠI ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ GIÚP ĐỠ ĐIỀU CHỈNH SAI LẦM CHO NHAU.

V.         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI CÓ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ HÀNH VI VÀ NHÂN CÁCH NHƯ MỘT XÃ HỘI GƯƠNG MẪU nhằm những tiêu chuẩn sau đây:

+ Trách nhiệm quan tâm đến người khác.

+ Trung thực, không dối trá.

+ Thương yêu, cởi mở, chân thành.

+ Đoàn kết.

+ Kỷ luật.

+ Nhận biết được bổn phận, trách nhiệm.

VI.         MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU PHẢI DỰ KIẾN MỌI BIỆN PHÁP KHI CÓ TÌNH HUỐNG XẤU:  Phải can thiệp ngay kịp thời khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.

VII.         CÁC ĐIỀU KIỆN QUẢN LÝ – Y TẾ – GIÁO DỤC – TRỊ LIỆU – CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ TRÌNH ĐỘ VÀ NHIỆT TÌNH ĐỂ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG ĐƯỢC VÀ KỊP THỜI.

VIII.        MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ CẦN CÓ MỘT THOẢ THUẬN ĐIỀU TRỊ NÓI LÊN QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VÀ NGƯỜI NGHIỆN: Thỏa thuận phải nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâm. Nội dung thoả thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đến một sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội và thu thập những kỹ năng để vượt qua thử thách tái nghiện.

IX.        NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ KẾT QUẢ:

1-         Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Vai trò của những người có trách nhiệm, uy tín trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập của các thành viên.

2-          Họ nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vị trí trách nhiệm đối với các thành viên trong cộng đồng. Phải biết rằng các thành viên trong cộng đồng luôn theo dõi việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không, cũng như theo dõi mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong cộng đồng, không được để các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng . Bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nói và hành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợi dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.

3-         Để thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nắm rõ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản lý thành công nhất là, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để họ học tập là những minh họa cụ thể trong giáo dục người nghiện. Những người quản lý không chỉ đảm bảo sự tồn tại, duy trì hoạt động của “ môi trường trị liệu cộng đồng” mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thật sự cho người nghiện ma túy.

4-         Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người cai nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma tuý, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ bản lĩnh của mình đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những người hướng dẫn rất có hiệu quả trong môi trường trị liệu cộng đồng – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với việc thông hiểu những suy nghĩ , thậm chí cả những mánh lới của đối tượng. Tuy nhiên việc sử dụng người cai nghiện thành công vào công tác quản lý của Trung tâm là vấn đề phức tạp như việc dùng dao hai lưỡi có thể tốt nhưng cũng có thể rất nguy hiểm nếu họ có ý đồ xấu thiếu trình độ hoặc tái nghiện lại. Do đó, để xử lý tình huống, người cán bộ quản lý phải có khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

E – YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU – HOẠT ĐỘNG – MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

I/ HỆ THỐNG TỔ CHỨC :

  1/ SƠ ĐỒ TỔ CHỨC :

Ban Giám đốc cơ sở điều trị

Các phòng ban chức năng

Cán bộ y tế

Cán bộ giáo dục

Cán bộ quản lý bảo  vệ

Cán bộ phục vụ

Đối tượng cai nghiện

 

  2/ NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO: Là vô cùng quan trọng đòi hỏi phải có TRÌNH ĐỘ và NHẠY BÉN trong công việc:

       + Điều chỉnh cơ cấu cho phù hợp.

       + Điều chỉnh các dịch vụ điều trị.

       + Điều chỉnh vai trò các cán bộ điều trị.

       + Phân công nhiệm vụ của cán bộ điều trị và nhân viên tư vấn phù hợp.

       + Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm cho tập thể CBNV để có thể triển khai chương trình điều trị.

       + Lập kế hoạch xây dựng chương trình điều trị – phục hồi dựa vào trung tâm và dựa vào cộng đồng.

       + Tổng kết tiến độ triển khai các chương trình từng giai đoạn.

 3/ NHIỆM VỤ CỦA CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG:

   Cơ bản gồm 4 bộ phận chính:

+ Y tế.

   + Giáo dục.

   + Quản lý.

   + Phục vụ.

Tất cả các bộ phận trên đều nhằm vào công tác điều trị, điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho đối tượng cai nghiện.

Tổ chức như trên nhằm mục tiêu :

        + Đảm bảo sức khỏe cho đối tượng cai nghiện – phát hiện và ngăn chặn kịp thời các bệnh cơ hội – dịch bệnh – bệnh mắc phải.

        + Sử dụng các phương pháp điều trị không dung thuốc thông qua tư vấn – liệu pháp tâm l‎ý – liệu pháp giáo dục – liệu pháp xã hội,…

        + Theo dõi tiến độ của học viên thông qua các hoạt động của cá nhân, nhóm, tổ chức, huấn nghiệp trị liệu, sản xuất trị liệu, …

        + Đảm bảo môi trường điều trị an toàn.

        + Tạo một môi trường sẵn sang đáp ứng kịp thời cho công tác cai nghiện ( xây dựng cơ sở vật chất – vệ sinh môi trường – chuẩn bị phục vụ cho mọi hình thức trị liệu,… ).

 II/ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN :

      _ Xác định nhiệm vụ rõ ràng cho từng cá nhân, từng nhóm, từng tổ chức của học viên và người phụ trách.

      _ Xác định nhiệm vụ người giám sát.

      _ Xác định nhiệm vụ của điều phối viên.

 III/ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC :

      _ Sắp xếp công việc cụ thể cho từng đối tượng.

      _ Cho phép đối tượng đăng ký với cán bộ điều trị nhận công việc cho mình, tất nhiên sự lựa chọn phải dựa vào khả năng từng người và tiến độ điều trị.

      _ Trách nhiệm của từng người trong công việc được giao, nếu như không đáp ứng được yêu cầu cần làm rõ vì những lý do bệnh lý hoặc lý do hành vi.

 IV/ LỊCH SINH  HOẠT HẰNG NGÀY:

Mục đích của việc bố trí lịch sinh hoạt là để điều hành hoạt động của Trung tâm, tạo cho đối tượng ‎ý‎ thức tổ chức kỷ luật, hình thành thói quen tốt và nhận thức tốt.

Một ví dụ của lịch sinh hoạt:

           6 :00  Thức dậy/ dọn giừơng/ vệ sinh phòng ngủ/ điểm danh.

           6 :30  Thể dục buổi sáng/ tắm rửa.

           7 :00  Ăn sáng.

           8 :00  Giao ban buổi sáng.

           8 :45  Cán bộ họp giao ban/ Họp nhóm đối tượng/ Sinh hoạt cộng đồng.

           9 :30  Lao động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu.

           11 :30 Tắm rửa.

           12 :00 Ăn trưa – nghỉ trưa.

           14 :00  Sinh hoạt nhóm điều trị.

           15 :30  Lao động trị liệu.

           17 :00  Hoạt động trị liệu.

           18 :00  Tắm rửa.

           18 :30  Ăn tối.

           19 :30  Tư vấn, họp nhóm…

           21 :00 Họp toàn thể cộng đồng/ thông báo chung.

           22 : Điểm danh tối/ đi ngủ.

Lịch sinh hoạt này thay đổi tùy theo từng giai đoạn điều trị và điều kiện của từng đơn vị.

 V.   NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

       Tình đồng đội và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị trong cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình.

          Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy những người lãnh đạo tổ chức phải là tấm gương của cộng đồng trị liệu. Người cán bộ lãnh đạo phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của mình.

  VI.  NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

          Cộng đồng có mục tiêu là tạo một môi trường cho sự điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách của đối tượng. Cộng đồng sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của những người lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Môi trường trị liệu cộng đồng bao gồm nhiều thành phần khác nhau: Có những đối tượng ích kỷ, mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân, nhưng cũng có những sự hy sinh bản thân để giúp đỡ các đối tượng khác. Đa số người cai nghiện có trạng thái tình cảm không ổn định, nhưng điều đáng chú ý là chính những cán bộ điều trị chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình. Tuy nhiên dù tình huống nào, người cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo, luôn luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Những cơ chế của cộng đồng được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc về sức mạnh và quyền hạn trong mọi đối tượng điều trị tại cộng đồng.

          Nhằm nâng cao những quy tắc, chuẩn mực của cộng đồng cần phải quan tâm đến việc đào tạo những cán bộ điều trị trở thành những nhân viên chuyên nghiệp có trình độ. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản lý nói riêng.

  VII. CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI  ĐỐI TƯỢNG:

          Môi trường trị liệu cộng đồng nổi tiếng là nhờ nó được sự tổ chức tốt, có nguyên tắc,  có cơ sở vật chất đầy đủ các yếu tố trên sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình cộng đồng buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như là nhà tù, các khu nhà cũ, cơ sở khám chữa bệnh thiếu thốn nhưng chúng ta phải quyết tâm từng bước nâng cấp môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một môi trường trị liệu cộng đồng.

          Cộng đồng trị liệu phải mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trị. Ngay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo, trại giáo dưỡng trẻ em vị thành niên: không khí “nhà tù” cũng không còn nữa, nhằm khiến cho cộng đồng trở thành một môi trường nhẹ nhàng, tin cậy cho việc điều trị – phục hồi, an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng: Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và luật rừng, thì môi trường cộng đồng tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.

          Những thành công lớn của môi trường trị liệu cộng đồng có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cần tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng tùy theo người cũ hay người mới tham gia điều trị. Tuy nhiên, mọi đối tượng cai nghiện đều phải hiểu được trách nhiệm của mình và các mục tiêu chung do cộng đồng đề ra.

F – TỔNG QUAN CÁC GIAI ĐOẠN KẾ HOẠCH QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ GIÁO DỤC TRONG MỘT MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ CỘNG ĐỒNG:

       _ Việc học tập và chuyển đổi hành vi mới cần được tiến hành từng bước.

      _ Có đủ thời gian để đối tượng tiếp nhận các bài giảng và sự giáo dục của người quản lý.

      _ Sự chuyển biến của đối tượng có thể nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiều yếu tố.

    I. GIAI ĐOẠN 1 : ĐỊNH HƯỚNG :

      _ Làm quen với chương trình điều trị ( nội dung, hoạt động trung tâm, các bước tiến hành )

      _ Cơ hội kiểm tra đánh giá ( học vấn, nghề nghiệp, tình trạng, tâm lý … ).

      _ Cán bộ quản lý cần quan tâm đến những biểu hiện về thái độ – suy nghĩ – những nhu cầu của đối tượng.

   II. GIAI ĐOẠN 2 : SƠ BỘ ĐIỀU TRỊ :

      _ Phân loại đối tượng căn cứ vào : Trình độ – nhận thức – hoàn cảnh – hành vi – bệnh lý – tiền sử đối tượng…

      _ Xây dựng mục tiêu điều trị và những giá trị tinh thần cần đạt được ( thông qua quản lý công tác giáo dục tâm lý – xã hội, lao động trị liệu – hướng nghiệp trị liệu …)

      _ Huấn luyện cho đối tượng về tính năng động, sáng tạo, xây dựng trong học tập, trong công việc, trong quan hệ với mọi người và với gia đình.

  III. GIAI  ĐOẠN 3 : CHUẨN BỊ TÁI HOÀ NHẬP VỚI CỘNG ĐỒNG :

     Người quản lý phải nắm rõ và giúp đối tượng các vấn đề sau :

      _ Yếu tố gia đình, công việc, giáo dục, xã hội.

      _ Khó khăn tồn tại của gia đình đối tượng.

      _ Mạng lưới trợ giúp của xã hội.

      _ Những vấn đề riêng biệt của từng cá nhân đối tượng.

      _ Bắt đầu công tác phòng ngừa tái nghiện.

       Để đối tượng thu nhận được một những kiến thức sau khi tham gia điều trị phục hồi và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn công tác hằng ngày đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc về bản thân và mong muốn duy trì một cuộc sống lành mạnh không có ma tuý. Giá trị của những gì  đối tượng thu nhận được trong quá trình điều trị sẽ kiểm chứng lại trước khi đối tượng hoà nhập cộng đồng, trở về với cuộc sống xã hội. KHÓ CÓ THỂ TƯỞNG TƯỢNG được rằng một người nghiện rượu lâu năm, sau khi điều trị quay trở lại cộng đồng làm việc tại một quày rượu, lại vẫn có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh không uống rượu.

        Trong giai đoạn cuối của chương trình điều trị, cộng đồng sẽ cho người nghiện dần dần thoát ly môi trường có kiểm soát và tiếp xúc ngày một nhiều với môi trường xã hội. Đối tượng có thể tự đi tìm việc, trở lại nhà trường hay tham gia các hoạt động có ích khác. Đối tượng sẽ tự sắp xếp thời gian cho những hoạt động bên ngoài cộng đồng điều trị nhưng vẫn đảm bảo tham gia sinh hoạt nhóm, tư vấn, chăm sóc sau cai của các chuyên gia về tái hoà nhập cộng đồng. Họ phải hoàn tất khóa học về tình huống có nguy cơ dẫn đến tái nghiện. Họ cũng có thể tham gia giúp đỡ những thành viên khác của cộng đồng trong việc thực hiện các hoạt động điều trị.

        Khả năng tìm việc làm và duy trì một việc làm ổn định, hoà nhập được với gia đình, tiếp tục làm việc và duy trì trạng thái phục hồi là mục đích chính của giai đoạn này. Đối tượng lúc này nhận được sự giúp đỡ cả từ phía nhân viên điều trị và từ gia đình. Nếu tái nghiện xảy ra trong giai đoạn này, đối tượng phải trở lại môi trường điều trị cộng đồng và được trang bị thêm những biện pháp can thiệp cho đến khi đối tượng thực sự đủ khả năng duy trì trạng thái phục hồi.

   IV. GIAI ĐOẠN 4 : TÁI HOÀ NHẬP VỚI CỘNG ĐỒNG :

        + Có nghề nghiệp hoặc tiếp tục học tập.

        + Bố trí thời gian tham gia các hoạt động mang tính chất cộng đồng.

        + Tăng cường ảnh hưởng của nhóm nhằm giải quyết những mối lo ngại.

        + Lập kế hoạch từng bước để đảm bảo : đời sống, sinh hoạt lành mạnh.

        + Tăng cường các hoạt động nhằm phòng ngừa tái nghiện.

   V. GIAI ĐOẠN 5 : QUẢN LÝ THEO DÕI SAU CAI :

        + Thời gian là 6 tháng đến một năm hoặc nếu cần nhiều hơn nữa.

        + Dần ổn định cuộc sống.

        + Tham gia các nhóm điều trị được tổ chức định kỳ, quản lý theo trường hợp cụ thể với sự giúp đỡ của xã hội.

        + Trở lại nơi làm việc, học sinh quay trở lại trường học.

        + Đặt kế hoạch chỉ  tiêu cụ thể từng giai đoạn của cuộc sống.

G – CÔNG TÁC QUẢN LÝ –  ĐIỀU CHỈNH – GIÁM SÁT HÀNH VI ĐỐI TƯỢNG CAI NGHIỆN:

      Việc phân cấp cơ cấu tổ chức và lịch sinh hoạt thường ngày là một dạng kỷ luật và nó tạo ra cho người nghiện cảm giác ổn định. CUỘC SỐNG ĐỐI TƯỢNG PHẢI ĐƯỢC ĐI VÀO KHUÔN KHỔ VÀ CÓ KẾ HOẠCH CỤ THỂ ngược lại hẳn với cuộc sống trước kia của đối tượng ngoài xã hội đầy rẫy rối loạn, thiếu ý thức – một lối sống điển hình của người nghiện. Các hoạt động này khuyến khích việc đặt kế hoạch cho sự ổn định lâu dài. Tuy nhiên, những điều này không đơn giản và khó thực hiện. Khi người nghiện đã lệ thuộc vào ma túy thì khả năng nhận thức cuộc sống của đối tượng cũng bị hạn chế, do các thói quen xấu có liên quan đến việc sử dụng ma tuý. Đối tượng không tự hành động như một người bình thường mà phải giúp đối tượng từng bước đạt được dần những thành công nhỏ trong quá trình phục hồi.

      Tóm lại, môi trường trị liệu cộng đồng là một môi trường điều trị tích cực, năng động chứ không phải là một môi trường tĩnh. Những thay đổi có ý nghĩa mà người nghiện đạt được chính là kết quả của trạng thái đấu tranh tích cực bên trong bản thân người nghiện với sự giúp đỡ của tập thể nhằm loại bỏ những yếu tố làm suy yếu ý chí con người, những yếu tố thường được người nghiện sử dụng để bào chữa cho thất bại của mình. Bằng cách loại bỏ những yếu này, chúng ta còn có thể khiến cho đối tượng có được những hành vi phù hợp. Nếu chúng ta thành công trong việc thu hút sự tham gia tích cực của người cai nghiện vào chương trình điều trị, đối tượng sẽ có nhiều cơ hội hơn để phục hồi và lấy lại sự tự tin cho bản thân mình.

       Để đạt được các mục tiêu trên công tác quản lý – điều chỉnh – giám sát hành vi đối tượng là vô cùng cần thiết.

       Sau đây là một số điểm cần áp dụng :

I/  NGUYÊN TẮC: Đối tượng phải luôn luôn đặt vấn đề với tự chính mình :

      _ Cách thức nào để tạo hiệu quả trong cuộc sống.

      _ Đặt mình vào địa vị người khác.

      _ Điều gì sẽ đến khi suy nghĩ và hành động như thế này?

      _ Kiểm soát tình cảm- suy nghĩ- làm chủ bản thân.

II/ SINH HOẠT NHÓM: nhóm đối kháng, nhóm đặc biệt… nhằm :

      _ Đối diện với sự thật.

      _ Chấp nhận thử thách.

      _ Bày tỏ sự đồng tình hoặc không đồng tình.

      _ Giải toả nỗi bực dọc theo cách thức đối thoại trong hoà bình.

         * Môi trường sống của cộng đồng.

         * Sự tiến bộ của đối tượng.

III/ CÁC LOẠI HỌP HÀNH, SINH HOẠT KHÁC:

      _ Họp giao ban chung là rất quan trọng.

      _ Họp gia đình, phát hiện nguy cơ, tiến hành kiểm điểm, giải quyết vấn đề.

      _ Thực hiện các biện pháp điều trị không dùng thuốc là rất quan trọng.

      _ Tư vấn – Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp giáo dục – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu và các hình thức trị liệu khác.

IV/ NÓI CHUYỆN VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ THIỆN CHÍ GIÚP ĐỠ MÌNH.

V/ KIỂM ĐIỂM – KHIỂN TRÁCH: Làm rõ các vi phạm và biện pháp giải quyết.

VI/  TÁC DỤNG CỦA VIỆC KHEN THƯỞNG:

      _ Làm chuyển biến tích cực sự tiến bộ của đối tượng.

           Tất cả đối tượng điều trị gương mẫu đều được biểu dương – khen thưởng bất kể họ có xuất phát điểm như thế nào.

VII. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

          Những biện pháp điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách trong môi trường trị liệu cộng đồng như kiểm điểm, phê bình, giao ban buổi sáng, nhóm đối kháng, họp gia đình hay họp chung v.v… được xây dựng nhằm sửa đổi những hành vi vi phạm những quy tắc mà cộng đồng đề ra. Việc tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của cộng đồng hay những quy tắc cốt yếu là điều hết sức quan trọng trong việc duy trì sự lành mạnh và sự an toàn của môi trường điều trị. Những biện pháp điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách nhằm mục đích ngăn chặn, trừng phạt những hành động làm xói mòn tập quán, sự an toàn và tính lành mạnh của môi trường. Việc xử lý các vi phạm những quy tắc cơ bản – tạo ra cảm giác an toàn của cộng đồng.

       Tuy nhiên, nếu những biện pháp này bị lạm dụng sẽ gây ra những kết quả trái ngược. Nếu tổ chức môi trường trị liệu cộng đồng thiếu chuẩn mực và thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc áp dụng những biện pháp này thì chúng trở nên có hại nhiều hơn có lợi. Vấn đề sử dụng biện pháp nào với mức độ vi phạm như thế nào được quyết định bởi mức độ điều chỉnh hành vi từ thấp đến cao.

          Biện pháp kiểm điểm và trao đổi (tư vấn trực tiếp) được áp dụng cho những hành vi nhẹ. Đối với những môi trường trị liệu được tổ chức tốt thì ít khi phải áp dụng những biện pháp mạnh.

          Việc phải tăng cường sử dụng những biện pháp mạnh là dấu hiệu cho thấy môi trường điều trị đó đang có nguy cơ không được tổ chức tốt, do đó phải xem xét lại trách nhiệm của các thành viên cộng đồng đối với những quy tắc và chuẩn mực của cộng đồng cũng như nhận thức của những người quản lý.

          Những biện pháp điều chỉnh hành vi có hiệu quả nếu được sử dụng đúng sẽ làm tăng trách nhiệm của thành viên đối với việc tuân thủ các quy tắc mà cộng đồng đề ra. Khi một đối tượng bị gọi lên kiểm điểm trong một lần giao ban buổi sáng hay bị khiển trách trước tập thể để những thành viên khác trong cộng đồng phê bình sửa chữa hành vi không đúng của đối tượng, thì chính đối tượng vừa nói chuyện với cộng đồng và vừa chính với bản thân mình. Trong quá trình áp dụng những biện pháp này điều căn bản là phải đảm bảo chỉ lên án những hành vi sai trái chứ không cố gắng đánh vào lòng tự trọng của đối tượng. Do vậy trong các buổi giao ban chỉ nên chú trọng vào phân tích sự vi phạm của đối tượng và ảnh hưởng của nó tới bản thân đối tượng cũng như tới những người khác. Điều này được thể hiện rõ ở cảm giác biết ơn của đối tượng đối với sự quan tâm và tình thương của các thành viên khác dành cho đối tượng, thông qua việc giúp đỡ anh ta sửa đổi những thái độ, hành vi không đúng.

          Việc kiểm điểm trong các buổi giao ban buổi sáng nhìn chung đã giải quyết được sự vi phạm quy tắc của các học viên. Khi những quy tắc này bảo đảm, việc học tập cũng trở nên thuận lợi và đạt kết quả tốt. Nếu một học viên đã từng bị khiển trách vì đến muộn tại giao ban buổi sáng thì đối tượng thường ít khi lặp lại hành vi đó lần nữa. Bên cạnh những kiến thức mà họ nhận được từ bài giảng, họ còn nhận thức thêm được nhiều điều từ chính bản thân mình.

H – NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ VIỆC  ĐIỀU TRỊ – PHỤC HỒI CÓ HIỆU QUẢ:

     I/ Phải có một sự điều trị khoa học, tổng hợp, linh động, kịp thời và xuyên suốt: 

     Việc áp dụng những biện pháp điều trị tổng hợp là hết sức quan trọng trong công tác cai nghiện phục hồi. Không có mô hình cai nghiện chung nào cho đối tượng cai nghiện ma túy mà chỉ có những nguyên tắc cơ bản, mô hình tốt với người này chưa hẳn tốt với người khác.

    II/ CÁC DỊCH VỤ ĐIỀU TRỊ PHẢI LUÔN SẴN SÀNG:  Người nghiện luôn sẵn sàng nhận sự giúp đỡ khi đã suy sụp nhưng đến khi nào anh ta đến giai đoạn suy sụp thì ta không đoán trước được, vì vậy “ sự giúp đỡ” luôn luôn phải sẵn sàng vào những thời điểm mang tính quyết định – đó là khi anh ta tự nguyện đến điều trị cai nghiện. Những thủ tục phức tạp trong quá trình tiếp nhận đối tượng đến tham gia điều trị có thể khiến chúng ta bỏ sót những đối tượng đang cần sự giúp đỡ.

   III/ ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN CHỈ CÓ HIỆU QUẢ: Khi chúng ta đáp ứng được những nhu cầu phức tạp của đối tượng trong quá trình phục hồi. Để việc điều trị có hiệu quả phải xác định được các vấn đề liên quan đến khía cạnh, thái độ, hành vi, tâm tư tình cảm, khía cạnh đạo đức, yếu tố nghề nghiệp và quan hệ xã hội của đối tượng bên cạnh tiền sử lạm dụng ma tuý của anh ta. Một chương trình điều trị phục hồi toàn diện phải bao gồm những hướng dẫn hoặc sự can thiệp đáp ứng được tính chất phức tạp của người nghiện ma tuý bao gồm cả những hoạt động chuẩn bị cho đối tượng tái hoà nhập cộng đồng và trang bị cho đối tượng những kỷ năng phòng chống tái nghiện..

   IV/ MỘT KẾ HOẠCH CAI NGHIỆN CỦA CÁ NHÂN CẦN PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG, ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ THEO TỪNG THỜI KỲ VÀ ĐƯỢC SỬA ĐỔI KHI CẦN THIẾT: Để đảm bảo rằng kế hoạch đó luôn phù hợp với những nhu cầu thay đổi của đối tượng. Một kế hoạch điều trị cai nghiện cũng như là một bản đồ hướng dẫn hành trình của đối tượng đi đến phục hồi, trong đó có quy định đến những điểm mốc cho từng giai đoạn và đích cuối cùng của quá trình điều trị. Kế hoạch này cho chúng ta xác định được mục tiêu đề ra và đánh giá được những gì chúng ta đã đạt được hoặc những thất bại và những thiếu sót được sửa chữa và xác định những lĩnh vực mới cần phải được củng cố cho đối tượng của chúng ta.

   V/ DUY TRÌ VIỆC ĐIỀU TRỊ TRONG MỘT THỜI GIAN ĐỦ DÀI MỚI CÓ THỂ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ CAI NGHIỆN:  Khoản thời gian thích hợp với từng cá nhân trong việc duy trì cai nghiện phụ thuộc vào những khó khăn và nhu cầu của cá nhân đó. Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với hầu hết đối tượng thời gian cần thiết để tạo ra những tiến bộ có ý nghĩa trong cai nghiện là khoảng 3 tháng (Day top ). Sau khi đạt đến ngưỡng này những biện pháp điều trị bổ sung có thể được áp dụng để đạt được những bước tiến xa hơn nhằm tiến đến phục hồi. Những điều trên chỉ đúng khi đối tượng được cung cấp đầy đủ các dịch vụ cai nghiện. Điều quan trọng là phải cũng cố được quyết tâm của đối tượng không cho họ rời bỏ điều trị một cách quá sớm. Thời gian cai nghiện lý tưởng trung bình khoảng hai năm, tối thiểu là 6 tháng.

  VI/ CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC – LIỆU PHÁP CÓ HIỆU QUẢ TRONG CAI NGHIỆN – PHỤC HỒI:

Những đối tượng cai nghiện ma tuý có những cơ hội trong điều trị để thảo luận về những vấn đề liên quan đến động cơ điều trị, xây dựng kỹ năng xã hội và thói quen chống lại việc sử dụng ma tuý, học tập những hành vi mới, nhận thức được khó khăn và có biện pháp khắc phục hữu hiệu. Trị liệu hành vi và trao đổi, thảo luận giúp nâng cao mối quan hệ giữa người với đối tượng trong gia đình và trong cộng đồng. Trao đổi, thảo luận là phương pháp quan trọng trong điều trị, nó giúp cho đối tượng đi từ quá trình học tập đến thích nghi với môi trường điều trị cũng như thích nghi với việc phải đương đầu với những khó khăn tồn tại khi quay trở lại gia đình hoặc cộng đồng, phòng chống tái nghiện.

  VII/ TIẾN HÀNH  SONG SONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU KẾT HỢP VỚI ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN:

Đối tượng cai nghiện thường có những rối loạn tâm thần kèm theo, tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh l‎ý tâm thần – phương pháp cộng đồng trị liệu phải linh động áp dụng cho đối tượng với những mức độ khác nhau.

  VIII/ CẮT CƠN NGHIÊN MA TÚY KHÔNG PHẢI LÀ CAI NGHIỆN MA TÚY MÀ ĐÓ CHỈ LÀ GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ CHO MỘT QUÁ TRÌNH CAI NGHIỆN – PHỤC HỒI LÂU DÀI:

Không có một biện pháp điều trị đơn thuần (thuốc, châm cứu, bấm huyệt, …) nào có thể chữa được bệnh nghiện ma túy mà đòi hỏi phải có những biện pháp điều trị tổng hợp, đồng bộ lâu dài thông qua các liệu pháp không dùng thuốc như:

–         Tư vấn.

–         Liệu pháp tâm l‎ý.

–         Liệu pháp giáo dục.

–         Liệu pháp xã hội.

Để nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm của các đối tượng.

 IX/ ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN KHÔNG PHẢI TỰ NGUYỆN MỚI ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ:

(Hai phần này coi lại bài: “Những nguyên tắc cơ bản trong cai nghiện phục hồi)

Cho dù một người đến cai nghiện là do tự nguyện hay là do gia đình hoặc các cơ quan chức năng đưa vào, đối tượng đó cũng phải được giáo dục để họ đến với động cơ đúng đắn là cai nghiện. Thông thường, ngay cả đối với những người cai nghiện tình nguyện, thì cũng có những nguyên nhân bên trong hay bên ngoài buộc họ phải ẩn náu trong các Trung Tâm cai nghiện. Điều trị cai nghiện tự nguyện hay ép buộc không quan trọng bằng trên thực tế đối tượng có được cơ hội để tham gia điều trị trong một môi trường điều trị lành mạnh hay không.

         Với nhóm bị ép buộc họ cũng nhận được những dịch vụ săn sóc, tư vấn, giáo dục, giúp đỡ. Tuy nhiên việc chuyển đổi nhận thức của họ lâu hơn và khó khăn hơn.

   X/ CÁC CHƯƠNG TRÌNH CAI NGHIỆN NÊN CUNG CẤP ĐÁNH GIÁ VỀ HIV/ AIDS, VIÊM GAN SIÊU VI B VÀ C, BỆNH LAO VÀ NHỮNG BỆNH TẬT DỄ LÂY LAN KHÁC, HƯỚNG DẪN GIÚP ĐỠ ĐỐI TƯỢNG HẠN CHẾ HOẶC THAY ĐỔI NHỮNG HÀNH VI CÓ NGUY CƠ LÂY LAN: Hướng dẫn thảo luận với từng cá nhân và theo nhóm có hiệu quả giúp các đối tượng học được cách làm như thế nào để tránh được những hành vi có nguy cơ cao. Việc hướng dẫn cũng có thể giúp cho những người đã bị nhiễm bệnh có thể tự chăm sóc được bản thân họ tốt hơn.

   XI/ SỰ PHỤC HỒI CỦA NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN CÓ THỂ PHẢI MẤT THỜI GIAN DÀI VÀ YÊU CẦU VIỆC THAM GIA ĐIỀU TRỊ MÔT CÁCH THƯỜNG XUYÊN: Người nghiện ma tuý thường ở tình trạng tái phát kinh niên và đói ma túy trường diễn. Cũng tương tự như đối với những loại bệnh kinh niên khác, việc tái sử dụng ma tuý có thể xảy ra trong hoặc sau một quá trình cai nghiện thành công. Khi một đối tượng trở lại sử dụng ma tuý không có nghĩa rằng anh ta đã không học được gì từ chương trình điều trị mà thực ra là anh ta đã thất bại trong việc học đủ để giúp anh ta hoàn toàn tránh khỏi việc sử dụng ma tuý. Quá trình cai nghiện phải kéo dài và gồm nhiều giai đoạn điều trị khác nhau để đạt được mục tiêu dài hạn là từ bỏ ma tuý và phục hồi đầy đủ các chức năng. Chính những người cai nghiện thành công nếu họ tham gia hỗ trợ các chương trình cai nghiện và quản lý sau cai thường giúp cho những đối tượng khác duy trì việc từ bỏ ma tuý.

   XII/  CAM KẾT CỦA GIA ĐÌNH NGƯỜI NGHIỆN NÊN ĐƯỢC XEM LÀ MỘT PHẦN CỦA QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ – PHỤC HỒI: Hầu hết những đối tượng, đặc biệt là những người vị thành niên đều trở về gia đình sau khi họ rời khỏi Trung tâm cai nghiện. Gia đình thường là chổ dựa vững chắc giúp cho con cái họ yên tâm cai nghiện   Khi các gia đình không được cung cấp thông tin đầy đủ về vấn đề cai nghiện ma tuý và mục tiêu của chương trình điều trị – phục hồi thì họ sẽ dễ bị thuyết phục bởi những lý do của đối tượng đưa ra nhằm mục đích sớm rời bỏ chương trình điều trị. Chính vì vậy các gia đình nên được hướng dẫn về nội quy và nguyên tắc của cơ sở điều trị, được giáo dục về triết lý và phương pháp cơ bản của cai nghiện. Cán bộ điều trị có thể giúp đỡ tư vấn cho gia đình đối tượng để giải quyết một số khó khăn tồn tại không để nó ảnh hưởng đến việc điều trị của đối tượng.

I – HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU- HUẤN NGHIỆP TRỊ LIỆU- LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU:

      Hoạt động trị liệu là khoa học và nghệ thuật hướng dẫn sự đáp ứng của người bệnh với những hoạt động chọn lựa nhằm cải tiến sức khoẻ, lượng giá thái độ điều trị hay tập luyện về thể chất hoặc tâm trí – Hoạt động trị liệu bao gồm các loại Hoạt động sinh hoạt hàng ngày – Hoạt động sáng tạo nghệ thuật – Hoạt động giáo dục và trí tuệ – Hoạt động giải trí …

      Huấn nghiệp và lao động trị liệu phải coi trọng cả hai mặt chân tay lẫn trí tuệ . 

      Cộng đồng trị liệu coi hoạt động trị liệu, huấn nghiệp trị liệu và lao động trị liệu là yếu tố quan trọng giúp đối tượng phục hồi nhanh chóng tình trạng nghiện. Các yếu tố trên có liên quan đến nhận thức của một người về vai trò của đối tượng trong cộng đồng. Một người khi biết rằng mình là thành viên có ích cho xã hội thì tự tin và tự trọng hơn, ít dính líu tới những hành vi sai trái. Điều này giúp cho chúng ta hiểu được vai trò của lao động trong đời sống xã hội của con người cũng như trong quá trình phục hồi của đối tượng được điều trị tại môi trường cộng đồng. Tất cả mọi thành viên đều đóng góp sức mình vào công việc hàng ngày nhằm duy trì chương trình điều trị, duy trì cơ sở vật chất và hoạt động của cộng đồng.

      Cộng đồng trị liệu là môi trường được tổ chức theo một cơ cấu chặt chẽ dựa trên nguyên lý trách nhiệm tăng dần do các thành viên của cộng đồng đảm nhiệm, đối tượng phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng hoạt động hàng ngày. Cơ cấu tổ chức này đảm bảo công việc hoàn thành đúng lúc, dưới sự giám sát chặt chẽ.

      Huấn nghiệp và lao động trị liệu của cộng đồng là một hệ thống phân công rất khoa học. Ngoài việc cộng đồng có thể tự sản tự tiêu bằng cách tận dụng được đối đa nguồn nhân lực dồi dào của cộng đồng, cơ cấu này còn cho phép tập trung vào một số yếu tố khoa học trong việc thực hiện một chương trình điều trị nhằm phục hồi hành vi nhân cách, tăng lòng tự tin, tăng tính tự trọng và ý thức tổ chức kỹ luật trong lao động. Hệ thống này khuyến khích các thành viên phấn đấu để đạt được những vị trí nhất định trong cộng đồng, khuyến khích tinh thần tự lập …

          Vì những lý do trên, những người quản lý phải quan tâm đến việc xây dựng một lịch hoạt động – huấn nghiệp và lao động chi tiết cho việc thực hiện các chương trình hoạt động trong ngày. Người quản lý phải giám sát chặt chẽ thái độ và hành vi của thành viên trong cộng đồng.

          Để đạt được mục đích cộng đồng đặt ra, cần chú trọng vào việc giúp đỡ đối tượng hiểu thêm về chính bản thân mình, hiểu được ưu điểm, nhược điểm của bản thân ví dụ như cảm giác tự ti trong một hoàn cảnh xã hội nào đó. Giả sử, một người được giao  một công việc đòi hỏi phải có năng lực – trình độ. Việc này khiến  cho đối tượng phải lo lắng. Để có thể giúp đối tượng thực hiện phải khuyến khích đối tượng chấp nhận sự thử thách của công việc. Muốn giao cho đối tượng một công việc ta phải cân nhắc kỹ thái độ, hành vi và đặc biệt là khả năng chấp nhận thử thách của đối tượng. Lao động trị liệu là một trong những biện pháp trị liệu cho nên ở một số chương trình điều trị sẽ bị thất bại nếu sử dụng đối tượng điều trị như một dạng công nhân rẽ mạt cho sản xuất.

      Những đối tượng tích cực trong công việc và có thái độ đúng đắn đối với lao động thường có xu hướng coi trọng công việc mà họ đang làm và vị trí của trong công việc. Đối tượng phải có thái độ và hành vi đúng với quá trình làm việc chứ không chỉ đơn thuần làm việc tốt là được. Việc luân chuyển thay đổi công việc diễn ra thường xuyên trong cộng đồng cho phép các đối tượng có cơ hội tiếp xúc với nhiều loại vi trí công việc trong môi trường.

          Từ những lý do trên đối tượng phải:

+       Tìm hiểu về chính bản thân mình

+       Điều chỉnh thái độ và hành vi cho đúng.

+       Khi đối tượng lao động tích cực sẽ có một uy tín trong cộng đồng, cho nên những chương trình huấn nghiệp trị liệu – lao động trị liệu thường đạt tỷ lệ thành công cao với thời gian ngắn và chi phí thấp. Chương trình huấn nghiệp trị liệu – lao động trị liệu thường không áp dụng cho những thành viên mới của cộng đồng, những thành viên mới cần phải có thời gian để điều chỉnh thái độ, nhận thức hành vi nhân cách trước khi được tham gia huấn nghiệp và lao động trị liệu.

J – LIỆU PHÁP GIÁO DỤC TÂM LÝ – XÃ HỘI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY :

Vì người nghiện ma túy bị rối loạn tâm sinh lý, rối loạn nhận thức, đánh mất lòng tự trọng  (xem phần I) do đó giáo dục trị liệu nhằm gọt dũa hành vi điều chỉnh nhận thức và nhân cách là vô cùng quan trọng. Đối tượng phải được giáo dục những suy nghĩ lành mạnh – làm chủ được bản thân khi gặp tình huống xấu và nhận thức được chân giá trị sống để có thể đối phó và định hướng cho chính bản thân .

I. NHỮNG NÉT ĐẠI CƯƠNG:

      + Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tương tự xã hội.

      + Học tập thông qua thử thách và hành động.

      + Học tập thông qua những điều kiện sống phản ảnh thế giới thực bên ngoài và nội tâm đối tượng.

      + Học tập thông qua việc cởi mở và bày tỏ công khai cảm xúc của mình.

II. PHƯƠNG THỨC – MỤC TIÊU – VÀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC :

      + Xây dựng nhiều loại hình điều trị cá nhân và điều trị nhóm.

      + Nội dung sinh hoạt bao gồm nhiều mặt của cộng đồng ( cách thức dọn dẹp giừơng chiếu, giữ gìn tủ đựng sách, ăn mặc, giao tiếp, bày tỏ sự quan tâm đến người khác ), bộc lộ các suy tư vướng mắc của mình.

      + Tạo bầu không khí quan tâm, tôn trọng và chấp nhận những thử thách của môi trường.

      + Học tập và thực hành tâm năng dưỡng sinh nhằm trợ giúp việc nâng cao nhận thức ( tư duy tích cực – làm chủ bản thân và hiểu các giá trị sống …… ).

      + Biểu tượng, nghi lễ và cách thức tiến hành công việc.

III. PHÁT HUY ĐỘNG LỰC TÍCH CỰC CỦA NHÓM  ĐỒNG ĐẲNG.

      + Cán bộ lãnh đạo được đào tạo sâu về cộng đồng trị liệu.

      + Giáo dục về cộng đồng trị liệu cho các đối tượng.

      + Những nhân viên chuyên nghiêp được đào tạo về trị liệu cộng đồng : các bác sĩ, nhà giáo dục, nhà quản lý, nhà hướng nghiệp,…

      + Cần chia sẽ hệ thống niềm tin và gía trị cho các thành viên của cộng đồng.

      + Mô hình điều trị mang tính thực hành : học đi đôi với hành.

          Tất cả các động lực tích cực trên phải được đưa ra những quy định, quy tắc xã hội – nguyên tắc tổ chức bộ máy.

IV. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI TỎA ẤM ỨC, HÀN GẮN, XOA DỊU VẾT THƯƠNG:         

Những biện pháp điều chỉnh hành vi chỉ là bước đầu trong quá trình kiểm soát, quản lý hành vi của thành viên cộng đồng. Hiệu quả của những biện pháp này hoàn toàn mang tính tạm thời và dựa chủ yếu vào những tập quán quy tắc cộng đồng xây dựng. Nhằm đạt được sự ổn định trong việc thay đổi hành vi cần phải chú ý phân tích nguyên nhân sâu xa để xây dựng mối liên hệ cần thiết giữa giá trị của hành vi với mục tiêu của lối sống đúng mực.

       _ Những biện pháp điều chỉnh hành vi khiến cho đối tượng có thể có một cuộc sống bình thường.

       _ Còn những biện pháp giải toả ấm ức, hàn gắn, xoa dịu vết thương giúp cho đối tượng có được nhận thức sâu sắc hơn về bản thân mình.

          Hai biện pháp này bổ sung, hổ trợ lẫn nhau. Việc quá chú trọng vào một biện pháp cụ thể nào đó cũng không cho kết quả tốt hơn là tiến hành cả hai biện pháp song song hổ trợ lẫn nhau. Nói một cách khác, nếu như chúng ta chỉ áp dụng các biện pháp điều chỉnh hành vi một cách đơn thuần, thì các đối tượng sẽ cư xử không khác gì người máy. Họ sẽ có hành vi đúng trong môi trường cuộc sống tập thể, nhưng những hành vi đó sẽ mất khi họ rời khỏi môi trường điều trị.

V. TƯ VẤN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG:

          Tư vấn cho  nhóm và cá nhân đều đem lại cho đối tượng nhớ – hiểu biết và đánh giá được quá khứ, tiền sử cá nhân có liên quan đến việc sử dụng ma túy của mình. Việc một ngừơi nghiện ma túy phủ nhận sự thật sẽ càng nhiều tuỳ theo bề dày của quá trình sử dụng ma túy. Xóa tan sự phủ nhận này cũng đồng nghĩa với việc bắt đối tượng phải đối đầu với sự thật của cuộc đời mà bấy lâu nay đối tượng vẫn thường né tránh. Một phần của sự phủ nhận thể hiện ở việc đối tượng thường biện minh hay hợp lý hóa các thất bại của mình trong việc từ bỏ ma túy. Việc tháo gở cho đối tượng những vướng mắc loại này cũng tương tự như khi chúng ta bóc vỏ hành từng lớp, một đối tượng từng bước hiểu rõ sai lầm và bổn phận của cá nhân hơn. Biện pháp tư vấn điển hình được áp dụng trong môi trường cộng đồng trị liệu là biện pháp đối diện trực tiếp, nó thử thách niềm tin và trách nhiệm cá nhân của mỗi người nghiện.

          Để đạt các mục tiêu trên – cần thành lập trong cộng đồng các loại nhóm với vai trò khác nhau :

          *Nhóm định hướng,  nhóm điều tra,  nhóm mở rộng,  nhóm marathon và nhóm đối kháng.

          Môi trường cộng đồng trị liệu đã xây dựng một số liệu pháp nhóm từ đơn giản đến phức tạp nhằm nâng cao chất lượng của việc điều trị cai nghiện. Mỗi loại nhóm nhằm giải quyết một khía cạnh khác nhau. Có những mục tiêu nhất định mà người cai nghiện buộc phải đạt được trong quá trình điều trị cai nghiện và phải tham gia sinh hoạt :

VI. TRANG BỊ BẢN LĨNH VÀ KỸ NĂNG SỐNG:

1/     Tư duy tích cực:

Khi ta làm những gì  – cảm nhận những gì cũng bắt đầu từ một suy nghĩ và đều nhận sau đó mọi hệ quả của nó tác động vào bản thân và môi trường, mối quan hệ chung quanh.

Chúng ta có 4 loại suy nghĩ chính sau đây:

Suy nghĩ tích cực: Suy nghĩ mang lại ích lợi cho chính bản thân bạn và cho những người khác. Đó là những suy nghĩ về sự chấp nhận, hòa bình, lạc quan, khoan dung,…Suy nghĩ tích cực là thấy một chiếc ly “đầy nửa ly” thay vì “vơi nửa ly”; nghĩa là thấy cái gì mà bạn có và tập trung vào đó thay vì cảm thấy thất vọng về những cái mà bạn không có. Suy nghĩ tích cực giúp bạn hạnh phúc hơn nhiều trong cuộc sống.

Suy nghĩ tích cực giúp ta có hành động tốt. Hành động này tác động vào lòng tự tin, tính tự trọng và ổn định cho bản thân đồng thời tác động với môi trường và mối quan hệ quanh ta. Trái lại, nếu chúng ta suy nghĩ tiêu cực, ta sẽ phải trải qua những điều buồn chán, căng thẳng và chính ta sẽ là người chịu đựng.

Nếu ta thay thế những suy nghĩ tiêu cực bằng suy nghĩ tích cực ta sẽ có những niềm vui mới và nhiều thành công hơn

Sức mạnh và hiệu quả của ý nghĩ: giúp đối tượng

–                 Có trách nhiệm về những ý nghĩ của mình.

–                 Ý nghĩ có sức mạnh rất lớn, tạo nên cảm xúc dẫn tới hành động.

–                 Sự lặp đi lặp lại thường xuyên của các ý nghĩ tích cực sẽ tạo niềm tin và thái độ rõ ràng.

–                 Các ý nghĩ giống như những hạt giống gieo trồng trong tâm trí. Càng đầu tư càng thêm nhiều sức mạnh cho ý tưởng đó.

–                 Các ý nghĩ tích cực cho ta nghị lực và sức mạnh.

–                 Các ý nghĩ tiêu cực khiến ta đánh mất sức mạnh, khiến ta mệt mỏi và kiệt quệ.

–                 Cần mất thời gian để thay đổi các tư duy cũ. Hãy kiên nhẫn với chính mình.

2/     Tự kiểm soát làm chủ bản thân:

      + Người nghiện ma tuý vốn  rối loạn tâm sinh lý nên rất dễ bị lôi cuốn, kích động trước một vấn đề gì, đó là  một trong những cái cớ để họ trở lại với việc tái sử dụng ma tuý.

      + Bằng phương pháp tư duy tích cực đối tượng  có thể điều chỉnh được những hành động suy nghĩ của chính mình bằng sự  tự kiểm soát làm chủ bản thân. 

    Hai yêu cầu chủ yếu của tự kiểm soát làm chủ bản thân là:

           – Tinh thần khách quan.

           – Bình tĩnh đánh giá sự việc và cách giải quyết.

       Tinh thần thần khách quan làm đối tượng nhìn nhận rõ hơn sự việc và con người của mình không làm sai lạc nhận thức và phán xét của mình.

      Từ những dữ kiện có được, đối tượng phải bình tĩnh đánh giá lại tình huống, sự việc một cách có tình có lý và từ đó vạch ra hướng giải quyết vấn đề.

       Để giáo dục người nghiện ma tuý, phải thực hiện việc này một cách thường xuyên  cho họ tự đánh giá và trình bày cách giải quyết và cách thực hiện.

      Động tác này được lập đi lập lại để trở thành một thói quen tốt.

   Để đạt được hai yêu cầu trên đối tượng cần phải tập các đức tính sau:

       Trách nhiệm : Khi đã quyết định và hành động đối tượng phải dũng cảm chấp nhận những hậu quả, việc làm của mình, không đổ lỗi nhưng cũng không phải khư khư giữ lấy ý kiến mình mà phải can đảm nhìn lại các mặt của vấn đề, phát huy những mặt tốt và cương quyết loại bỏ những cái sai, cái xấu để điều chỉnh lại quyết định và chương trình hành động.

       Tinh thần tập thể : “ Gieo là gặt ”” sự hợp tác sẽ dẫn đến sự hợp tác ” sức mạnh hợp tác sẽ tạo cho công việc dễ dàng và vui vẻ . Người nghiện ma tuý bản thân sống rất chủ quan và ích kỷ do hình thành nhũng thói quen xấu, tinh thần tập thể sẽ tạo cho họ sự thoải mái, nhận thức được chân giá trị của cộng đồng, trách nhiệm vai trò của cá nhân trong tập thể.

       Tự kiểm soát làm chủ bản thân là một sự tập luyện lâu dài, đối tượng phải được từng bước làm quen và tiến hành thực hiện bằng những tình huống do nhà quản lý đặt ra hoặc những công việc, vụ việc cụ thể trong đời sống cộng đồng .

       Đối tượng phải được đóng góp sự giúp đỡ của nhà quản lý , của tập thể thông qua tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hoặc trong giao ban buổi sáng tại các trung tâm cai nghiện.

       Khi đối tượng đạt được các đức tính trên họ có thể hi vọng đối phó với những nghịch cảnh , nhũng tình huống không thuận lợi.

3/     Nhận thức về những giá trị sống:

     CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG là một chương trình của nhiều nhà giáo dục trên toàn thế giới – chương trình này được sự hỗ trợ của UNESCO – Nhóm giáo dục của UNICEF và nhiều tổ chức khác. Nội dung chương trình nhằm giáo dục các giá trị về cá nhân – xã hội bao gồm các đức tính: Hợp tác – Tự do – Hạnh phúc – Trung thực – Khiêm tốn – Tình yêu – Hòa bình – Tôn trọng – Trách nhiệm – Giản dị – Khoan dung và Đoàn kết.

1)                 Mục đích của chương trình là:

    _ Giúp đỡ các cá nhân suy nghĩ những giá trị cuộc sống – các tác động thực tế trong việc thể hiện những giá trị này khi liên hệ với chính mình, với người khác, với cộng đồng.

   _ Để đối tượng hiểu sâu sắc hơn về động cơ, trách nhiệm liên quan đến những suy nghĩ  – hành động của bản thân.

  _ Điều chỉnh cho đối tượng nhận thức những giá trị cá nhân, xã hội về đạo đức, tinh thần, lối sống – phát triển và làm sâu sắc hơn các giá trị này.

  _ Để các nhà quản lý, giáo dục thấy rõ phương pháp giáo dục  là một phương pháp trị liệu quan trọng giúp đối tượng có thể hòa nhập vào cộng đồng với sự tôn trọng – tự tin và có mục đích.

2)                Chương trình được xây dựng trên 3 luận điểm cơ bản là:

_ Dạy sự tôn trọng nhân phẩm cho mỗi người và mọi người,

  _ Khả năng sáng tạo và học tập một cách tích cực khi có cơ hội.

  _ Phát triển trong một môi trường tích cực, an toàn, có sự tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau.

  IX. XÂY DỰNG NIỀM TIN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG: Danh ngôn ta có câu :   “NIỀM TIN CHỞ ĐƯỢC NÚI ”. Xây dựng được niềm tin trong môi trường trị liệu cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm điều trị và phục hồi cho đối tượng cai nghiện.

         * Niềm tin vào sự tồn tại của lòng tốt:

      Khi chúng ta dẫn dắt đối tượng của cộng đồng quay trở về quá khứ, chính chúng ta đã giúp đối tượng đối diện với sự thật, nói ra những điều bí mật mà đối tượng dấu diếm trong lòng để tìm cách học hỏi từ những vấp váp mà đối tượng đã từng gặp phải. Mặc dù gặp bất hạnh như thế nào trong cuộc đời thì đối tượng cũng không nên đeo đẵng mãi những suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Chúng ta không đánh giá con người qua những việc mà đối tượng đã làm trong quá khứ mà cần thái độ trung thực để sữa chữa những sai lầm của quá khứ. Người nghiện có thể thay đổi nhưng chỉ khi anh ta thật sự mong muốn mình thay đổi. Nếu như đối tượng cố gắng nổ lực không ngừng thì nhất định cuối cùng cũng duy trì được một lối sống lành mạnh. Đó chính là điều mà trị liệu cộng đồng tin tưởng.

       * Niềm tin vào khả năng hối cải và phục thiện của con người:

        Có một thời gian khá dài cả xã hội đều tin chắc một điều rằng “  người nghiện thì mãi mãi sẽ là người nghiện”. Môi trường trị liệu cộng đồng đã bác bỏ điều này vì qua thực tiễn, nhiều người đã từng tham gia điều trị, đã vượt qua được sự cám dỗ của ma tuý và nay đang sống một cuộc sống lành mạnh. Không ít người trong số họ vẫn đang  tiếp tục cuộc chiến chống lại nguy cơ tái nghiện. Những ai không bỏ cuộc thì nhất định cuối cùng sẽ có một cuộc sống bình thường và ổn định.

        * Niềm tin vào việc giúp người khác cũng là giúp chính bản thân mình:

        Một trong những phẩm chất quý báu mà đối tượng sau khi điều trị ở môi trường trị liệu cộng đồng có được là việc luôn sẵn sàng giúp đỡ những ai cần sự giúp đỡ. Khái niệm “cho” hầu như trở nên quen thuộc đối với mọi người. Đối tượng muốn duy trì một lối sống lành mạnh thì đối tượng phải biết chia sẽ những gì mà anh ta nhận được, anh ta mới là người sở hữu thật sự của chúng. Có một câu nói rất hay mô tả  được hết ý nghĩa của khái niệm “cho” trong môi trường trị liệu cộng đồng : “Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi  vấn đề trừ khi bạn chia sẽ với người khác”.

        * Niềm tin vào phẩm giá của con người:

        Có một phẩm chất đạo đức của con người mà ta luôn luôn phải coi trọng đó chính là phẩm giá hay giá trị của con người. Khi người nghiện có niềm tự  hào về phẩm giá của mình thường tích cực tham gia vào chương trình điều trị – phục hồi vì đó là biện pháp giúp họ nhanh chóng chuyển đổi thái độ và hành vi, nhằm lấy lại những gì mà họ đã mất.

       Thành viên nào vốn đã có niềm tự hào về phẩm chất thì thường tỏ ra là một người tốt của cộng đồng, tuân thủ các quy tắc về trách nhiệm đối với thái độ, hành vi của mình. Duy trì được niềm tự hào về – phẩm chất trong lối sống sẽ giúp con người tránh xa ma tuý và tránh xa được cả những yếu tố tiêu cực luôn đi kèm theo nó.

 X. XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG:

      * Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về yếu tố tinh thần trong môi trường trị liệu cộng đồng hầu như người ta cũng dễ nói lạc sang chủ đề tôn giáo và tín ngưỡng. Nhằm tránh việc nhằm lẫn giữa yếu tố tinh thần và khái niệm tôn giáo, tinh thần trong cộng đồng trị liệu được định nghĩa là : “ bất kỳ hành động hay hoạt động nào thể hiện, phản ánh lòng tốt của con người”. Đây là một định nghĩa khái quát, nó bao gồm rất nhiều loại hoạt động của con người kể cả hoạt động tôn giáo hay những việc làm có ích giúp tăng cường nhận thức của con người.

         Chương trình trị liệu cộng đồng không phải là một chương trình thuần túy nói về yếu tố tinh thần mà còn cần phải sử dụng nhiều biện pháp trị liệu khác. Yếu tố tinh thần chỉ được sử dụng với khía cạnh giúp cho quá trình thay đổi, phục hồi của người nghiện thông qua việc nhìn nhận cuộc sống dưới một góc độ khác. Điều quan trọng ở đây là sự góp phần điều trị nhằm tăng cường nhận thức cho người nghiện trong giai đoạn phục hồi.

       Cuộc sống trong cộng đồng là một cuộc sống tập thể. Cuộc sống tập thể ở đây tạo ra những điều kiện cần thiết cho người nghiện ma tuý để họ có thể nhanh chóng phục hồi trong môi trường có định hướng rõ ràng về “mục đích và kết quả”. Họ cần phải biết được thế nào là hành vi đúng trước khi có thể bước vào quá trình phục hồi. Đây chính là một thử thách lớn không chỉ với họ mà còn với tất cả các nhân viên điều trị.

Sau khi đã tìm lại được chính bản thân mình, người nghiện bắt đầu quá trình học hỏi những giá trị của cuộc sống, hệ thống niềm tin trong cộng đồng, mối quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh, không có ma tuý Sự thay đổi lớn lao trong thái độ của đối tượng ở giai đoạn này là rất đáng chú ý. Đối tượng tỏ ra có triển vọng và trở nên có tinh thần trách nhiệm trong lao động và hành vi ứng xử. Anh ta đã có cuộc sống đời thăng trầm chìm nổi nhưng đối tượng đã biết chấp nhận sự thật, biết kiểm soát nó và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. Đối tượng hiểu rằng cuộc chiến chống lại sự cám dỗ của ma tuý vẫn chưa chấm dứt và vẫn còn phải rèn luyện thêm những điều đã học để có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh lâu dài. Một người nghiện không đơn thuần là sự phụ thuộc vào ma tuý mà còn là sự lệ thuộc vào quá khứ cùng những yếu tố xã hội đi liền với quá khứ ấy. Đối tượng phải biết có thể đốt thành tro tất cả những nổ lực bấy lâu nay nhằm đạt được sự phục hồi. Do đó phải tránh mọi mối liên quan dẫn đến quá khứ tội lỗi đó là yếu tố tiên quyết để duy trì cuộc sống lành mạnh không ma tuý.

       Để duy trì được những gì mà được học, đối tượng phải biết cách chia xẽ những quan điểm – hành vi đúng đắn cho người khác. Đối tượng đã hoàn tất giai đoạn này, phải biết cách dạy lại những thành viên mới bằng chính ví dụ cuộc đời đối tượng. Vai trò của đối tượng trong cộng đồng bây giờ là dạy lại những điều mình được học. Chỉ có như vậy đối tượng mới thật sự hiểu hết ý nghĩa của mọi vấn đề đã học và có trách nhiệm hơn đối với hệ thống niềm tin trong môi trường trị liệu cộng đồng. 

KẾT LUẬN

     Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính, khó chữa, có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc cắt cơn nghiện có rất ít tác động đến việc thay đổi tình trạng sử dụng ma túy của đối tượng. Do những tổn thương về hệ thống não bộ tạo nên những rối loạn về hành vi- nhân cách của người bệnh – suy giảm khả năng xét đoán – xử lý thông tin – mất khả năng tự chủ – hình thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Người nghiện ma túy là một người đa nhân cách.

     Lạm dụng ma túy là hội chứng rối loạn toàn cơ thể bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau : Tâm sinh lý người bệnh – hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đình và tác động của xã hội.

     Việc sử dụng thuốc chỉ có một tác dụng giới hạn mà cần những biện pháp điều trị tổng hợp : Việc điều trị không chỉ nhằm vào việc cai nghiện của đối tượng mà phải giải quyết tận gốc những vấn đề liên quan đến hành vi – nhân cách, hoàn cảnh cá nhân, gia đình xã hội và động cơ đã ảnh hưởng đến việc nghiện ma túy của từng đối tượng.

     Từ những lý do trên việc trị liệu cho người nghiện trong một môi trường trị liệu cộng đồng là rất cần thiết. Khác với những phương thức điều trị cổ điển, quy ước chỉ gồm thầy thuốc và bệnh nhân, trị liệu cộng đồng đã huy động được toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân – thân nhân bệnh nhân – tập thể người bệnh cũng như toàn bộ nhân viên Trung Tâm tập trung vào mục đích điều trị cho mỗi bệnh nhân, tạo nên một sức mạnh tổng hợp. Với thời gian điều trị dài và những biện pháp đúng đắn nhằm gọt dũa, phục hồi hành vi – nhân cách, tạo cho người cai nghiện những nhận thức đúng đắn, hình thành những thói quen, nếp sống tốt để khi trở về với xã hội họ được trang bị bản lĩnh sống với lòng tự tin và sự tự trọng. Họ sẽ từng bước tiến lên trong cuộc sống với sự hỗ trợ của toàn xã hội.

NHỮNG HẠN CHẾ TRONG PHƯƠNG PHÁP CAI NGHIỆN BẰNG CHẤT ĐỐI KHÁNG MA TUÝ

NHỮNG HẠN CHẾ TRONG PHƯƠNG PHÁP CAI NGHIỆN

BẰNG CHẤT ĐỐI KHÁNG MA TUÝ

 

BS. Roger Meyer, Ths. Mary Randall, Cn. Cecily Barrington,                         (trang 123)

BS. Steven Mirin, TS. Isaac Greenberg

 

 

Trong một nghiên cứu vào năm 1966, Martin đã đưa ra việc sử dụng Cyclazocine trong điều trị dài ngày cho người nghiện heroin. (1) Wikler đã đưa ra một chương trình về hành vi có ảnh hưởng tích cực trên bệnh nhân đang điều trị cai nghiện với chất đối kháng ma tuý, làm tiêu tan các triệu chứng do cai nhịn thuốc (đói ma tuýconditioned abstinence) và triệu chứng do vẫn dùng ma tuý. (2) Khi chất đối kháng ma tuý đã được sử dụng một vài năm, thực hiện trên người bệnh vẫn hoạt động, đi lại; thì phác đồ của Wikler vẫn là phương pháp duy nhất trong điều trị bằng đối kháng ma tuý mà một mặt là hoàn toàn dựa trên cơ sở dữ liệu từ thực nghiệm trong Labô thí nghiệm, và mặt khác là dùng các đặc tính đặc biệt của chất đối kháng. Phác đồ của Wikler dựa trên khái niệm cho rằng các kích thích mà trước đó đi đôi với các triệu chứng do cai nhịn thuốc không điều kiện (unconditioned abstinence symptoms) cũng sẽ khơi gợi hiện tượng như trong hội chứng cai (abstinence syndrome) ở trên người đã từng nghiện ma tuý. Theo đó, những người này có thể bị tái nghiện do bị tác động từ các yếu tố từ môi trường xung quanh giống như ở trên. (3) Wikler đưa ra rằng với sự hiện diện của các yếu tố kích thích liên quan đó, thì người nghiện được điều trị với chất đối kháng ma tuý vẫn luôn phải có bản lĩnh trước ma tuý, cần dập tắt ngay hành vi sử dụng ma tuý. (2) Do đặc tính trung tâm của giả thiết cai nghiện dùng chất đối kháng ma tuý nên cần phải xem xét, đánh giá các số liệu gần đây, đây là việc quan trọng.và có thể tác động làm thay đổi phác đồ điều trị bằng chất đối kháng ma tuý này.

 

Khi định nghĩa trạng thái “tiệt trừ” (extinction), các nhà tâm lý học thực nghiệm (mà theo cá nhân tôi) có vẻ vẫn còn chưa đưa ra rõ ràng. (4) Một cái đơn giản nhất là việc tiệt trừ hành vi tìm kiếm thức ăn ở những con vật đang đói bụng, nó liên quan đến các yếu tố sau: 1) do những kích thích có sẵn trong môi trường, hình ảnh thức ăn phơi bày đã tạo ra cảm giác thèm ăn, và 2) các điều kiện có thể làm nảy sinh cảm giác thèm ăn (về hành vi/ behavior) nhưng động lực thúc đẩy (reinforcement) lại không xảy ra. Kết quả của điều kiện này là hành vi ban đầu đó (sự thèm thuồng) sẽ ngày càog lớn dần lên trước khi nó chấm dứt; ngưỡng hành vi bực tức giàm đi và tất nhiên làm cho hành vi này (sự bực tức) có khả năng tăng hơn.

 

Ở những con vật nghiện ở thể cho tự dùng ma tuý, hành vi tìm kiếm ma túy được dập tắt nếu cho thay dùng morphine bằng dung dịch muối. (5) nếu cho con vật nghiện dùng liều naloxone mức thấp, thì thấy hành vi tìm kiếm ma tuý của nó có tăng lên, giả sử trong trường hợp phản ứng lại với trạng thái khi cai nhịn ma tuý. (6) hành vi như vậy bị tiêu trừ khi có dùng liều chặn cao bằng Naloxone, do không thể giảm bớt triệu chứng do cai nhịn thuốc. (6) việc tiệt trừ biểu lộ phản ứng ở những con vật nghiện ma tuý có thể xảy ra. Cũng thấy rõ là hành vi có thể được tái lập lại dưới các điều kiện có mặt của các tác nhân kích thích.

 

Việc tiệt trừ các phản ứng tự phát ở thể có điều kiện xảy ra khi có một kích thích loại có điều kiện được lặp đi lặp lại mà lại không có tác động của loại kích thích không điều kiện. Theo đó, phản ứng tự phát sẽ không còn xảy ra đối với các kích thích có điều kiện. Do vậy, Goldberg và Schuster đã quan sát quá trình tiêu trừ nhanh chóng các phản ứng do cai nhịn có điều kiện (có quan hệ với ánh sáng đỏ – red light). (7) Ngược lại, các kích thích có quan hệ với việc làm gia tăng hành vi đến với ma tuý (v.d. một ánh sáng đỏ có mặt cùng với mỗi lần tiêm chích ma tuý) thì đòi hỏi cần có một số đặc tính bổ sung được duy trì cho đến 19 ngày sau khi cai hoàn toàn với ma tuý. (8) Giống như ánh sáng đỏ trong thực nghiệm của Goldberg và Schuster, một số kích thích cụ thể có thể đi đôi (theo mô hình điều kiện cũ) với những lúc cai không dùng ma tuý hoặc những lúc dùng thuốc đối kháng ma tuý, được thực hiện trên con vật nghiện (cai nhịn có điều kiện). Một số kích thích cụ thể khác cũng có thể có quan hệ với đặc tính gây nghiện của thuốc ma tuý, như đã được trình bày bởi Goldberg, Schuster, và Woods (8) và bởi một số người khác. Trong các thực nghiệm của Smith và David (9), các con chuột sẽ tiến tới, hay chúng bị đánh thức tỉnh bởi những âm thanh mà những âm thanh này trước đó có sự đi kèm với việc dùng ma tuý. Tóm lại, các con vật sẽ bị khơi dậy đến với ma tuý bởi những yếu tố kích thích trong môi trường xung quanh, những yếu tố mà trước đó chúng đã biết là có kèm với ma tuý.

 

Trong điều kiện có các yếu tố kích thích mà không liên quan đến ma tuý, thì người đã từng nghiện cũng sẽ không có xu hướng đến với ma tuý (ví dụ, người dùng heroin Việt nam quay trở lại Hoa Kỳ). Ngược lại, dưới các điều kiện kích thích có liên quan đến ma tuý – hình ảnh về việc sử dụng ma tuý trước đây, thì hoàn toàn có thể dẫn tới tái nghiện. Như Wikler đã chỉ ra rằng, sự tiệt trừ (extinction) sẽ không xảy ra ở những nơi mà trước kia không can hệ gì tới việc sử dụng ma tuý như là nhà tù và những nơi không ma tuý khác (gọi là dưới điều kiện không có ma tuý). (3) Vấn đề mấu chốt mà chúng tôi đang cố gắng xác định qua 3 năm thử nghiệm chất đối kháng ma tuý trên động vật và trên người là liệu rằng hành vi được quan sát dưới tác dụng của chất đối kháng ma tuý có phù hợp với những khái niệm về tiêu trừ trong các điều kiện như đã nói ở trên, hay nó phù hợp với các giải thích khác (ví dụ, về sự no nê bão hoà, trong điều kiện trái ngược, hoặc cả khuynh hướng phân biệt. (10, 11, 12, 13) Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng không chỉ về cách tiếp cận của chương trình điều trị với cá nhân bệnh nhân, mà nó còn quan trọng về mặt xác định độ dài tối ưu trong điều trị với chất đối kháng ma tuý và cả cách dùng. Nó cũng có thể mang cả ý nghĩa về khả năng hiệu quả của phương thuốc.

 

Các phương pháp:

 

Các phương pháp được áp dụng trong công tác của chúng tôi đã được trình bày kỹ tại các hội nghị trước đây của tổ chức và lần này sẽ lại được trình bày ở phần sau. Cơ bản thì việc sử dụng heroin dưới các điều kiện có cản trở/kháng đã được quan sát theo dõi tại khu vực nghiên cứu trong thời gian được 10 ngày. Thuốc kháng ma tuý đã được dùng (1) dưới các điều kiện không che dấu (nonblind) khi mà tất cả các đối tượng đã trải qua kháng ma tuý sau một giai đoạn là 10 ngày có dùng heroin không bị cản trở, vẫn ở trong cùng khu vực, (2) dưới các điều kiện không che dấu, các đối tượng không trải qua giai đoạn có dùng heroin không bị cản trở trước giai đoạn kháng với naltrexone, và (3) dưới các điều kiện mù đôi, các đối tượng sẽ nhận thuốc naltrexone hoặc loại giả dược naltrexone. Ở điều kiện sau, các đối tượng bị cản trở có mặt tại khu nghiên cứu cùng lúc với các đối tượng không bị cản trở, nhận heroin. Trong mô hình ở phần sau, việc kết hợp bệnh nhân trong khoa tại bất kỳ thời điểm có thể gồm nhóm không đồng nhất (một, hai, hoặc 3 bệnh nhân cho dùng naltrexone, cùng với 3, 2 hoặc 01 bệnh nhân dùng giả dược) hoặc nhóm đồng nhất (tất cả bệnh nhân đều dùng naltrexone).

Dữ liệu được ghi nhận trên 31 đối tượng là những người đã trải qua giai đoạn kháng ma tuý tại cơ sở và được phát dùng naltrexone trong giai đoạn tiếp theo sau điều trị*. Những bệnh nhân này có trung bình là 7,6 năm dùng heroin (trong phạm vi là 4 đến 20), do vậy việc điều trị có trung bình là 5,5 lần với trước đây (phạm vi 2-25).

 

Thủ tục ký cam kết đã từng được trình bày bao quát và sẽ được nói thêm ở phần cuối của báo cáo này.

 

Kháng ma tuý: chỉ trừ 2 bệnh nhân, còn lại trên tất cả bệnh nhân thì việc kháng ma tuý được thực hiện bằng việc uống hàng ngày 50 hoặc 70 mg chất Naltrexone. Trong các nghiên cứu mù đôi, thì sử dụng một lượng tương ứng nước xi-rô để làm giả dược. Còn trong nghiên cứu ban đầu, liên quan đến 2 bệnh nhân dưới các điều kiện kháng, thì việc kháng ma tuý được thực hiện bằng việc uống Naloxone 500 mg với 4 lần/ngày.

 

Naltrexone được phân phát cho người bệnh ở giai đoạn điều trị tiếp theo là tại các nhà thuốc trong khu vực. Trong 14 tháng tiếp theo đó, mỗi lần sử dụng naltrexone tại nhà thuốc, bệnh nhân được phát thưởng 1$. Cứ 7 ngày sử dụng naltrexone, 5$ được giải ngân cho bệnh viện mà bệnh nhân chọn đến điều trị hàng tháng.

 

Các bệnh nhân đều được các y tá điều dưỡng giám sát 30 phút sau khi uống thuốc kháng ma tuý để đảm bảo là thuốc đã ngấm và không bị nôn mất. Đối với bệnh nhân ngoại trú thì sẽ được giám sát bởi các dược sĩ.

 

Việc sử dụng heroin: Heroin được sử dụng theo đường tĩnh mạch dưới sự giám sát về y tế; luôn cho phép các đối tượng được lựa chọn là tự nguyện không dùng ma tuý dù có sẵn. Lịch dùng ma tuý cho phép bệnh nhân dùng đến 6mg vào ngày 1 và 60mg vào ngày 10 với mức tăng là 6mg mỗi ngày từ ngày 1 đến ngày 10. Liều cho phép 2 giờ tăng từ 0,5mg ở ngày 1 lên mức 5mg vào ngày 10; nếu chờ 4 tiếng giữa các liều thì đối tượng có thể cho gấp đôi liều 2 tiếng; nếu chờ 6 tiếng thì có thể gấp 3. Sau 6 tiếng thì không cho tăng luỹ tiến nữa. Nhóm dùng ma tuý được tính tích điểm, và điểm số có thể dùng để trao đổi với ma tuý trong những trường hợp cụ thể.

 

Đánh giá về tâm trạng và mức khao khát với ma tuý: đối tượng được ghi nhận lại về mức độ thèm muốn ma tuý theo các mức được tính trên thước 100mm. Trên thước này đối tượng ghi lại mức “thèm heroin” (từ cao nhất đến thấp nhất), thực hiện hàng ngày như là ghi điểm xuốt thời gian của chương trình nghiên cứu, trước và sau mỗi lần sử dụng heroin. Như đã trình bày, việc thèm ma tuý có quan hệ mật thiết với hành vi sử dụng thực sự các chất ma tuý dưới các điều kiện là bị cản trở hay không bị cản trở. Mạch, huyết áp, nhịp hô hấp và nhiệt độ được ghi lại hàng ngày (vào 8 giờ sáng), tại trước và sau khi dùng heroin. Kích thước đồng tử cũng được ghi lại trước và sau lần sử dụng đầu tiên trong ngày. Thiết bị đánh giá tâm trạng bệnh nhân – Osgood Semantic Differential Mood Self-report được sử dụng hàng ngày để đánh giá (vào 8 giờ sáng), và tại lúc trước và sau mỗi lần tiêm chích heroin.

 

Mối quan hệ giữa việc sử dụng heroin có bị cản trở và các yếu tố nhân khẩu học và yếu tố thực nghiệm: Việc sử dụng heroin thực sự dưới các điều kiện có bị cản trở được nghiên cứu, xem như là một chức năng của các yếu tố về nhân khẩu học và thực nghiệm. Tổng số lần sử dụng, tần suất sử dụng và khối lượng heroin đã sử dụng thực sự dưới các điệu kiện có bị cản trở được sử dụng làm số liệu trong phân tích. Tuổi tác, số năm dùng heroin, tuổi bắt đầu sử dụng, số lần điều trị và số tháng ở trong tù kể từ khi bắt đầu dùng heroin đểu sử dụng làm các thông số về nhân khẩu học để xác định ảnh hưởng cuả tuổi tác, thời gian nghiện… Các điều kiện được dùng trong khu vực tiến hành nghiên cứu bao gồm: Thí nghiệm với thuốc Naltrexone theo phương pháp mù hoặc không mù (không cần che dấu), kinh nghiệm về kháng ma tuý đi kèm hoặc không đi kèm với kinh nghiệm trước đó về sử dụng heroin trong điều kiện có bị cản trở tại khu vực nghiên cứu điều trị, số đối tượng trong từng nghiên cứu, lấy mẫu đồng nhất đối chiếu với nhóm mẫu không đồng nhất.

 

Số liệu tiếp theo: Do mối quan hệ định đề giữa trạng thái “tiệt trừ” do cai và kết quả dài hạn trong cộng đồng sử dụng chất đối kháng nên dữ liệu cũng được đánh giá một cách tương đối với kết quả của những bệnh nhân đã trải qua kháng ma tuý trong khu nghiên cứu (cụ thể là liên hệ kết quả trong cộng đồng với tần suất sử dụng heroin dưới các điều kiện có bị cản trở). Chúng tôi cũng so sánh kết quả của những bệnh nhân chỉ trải qua phần sử dụng heroin trong điều kiện không bị cản trở với những người trải qua giai đoạn kháng bằng việc dùng Naltrexone. Chúng tôi cũng so sánh kết quả ban đầu và kết quả dài hạn trong các nghiên cứu mù đôi và không mù mà trong đó có sử dụng naltrexone trong cộng đồng, có hoặc không có kèm theo khoản thưởng 1$ mỗi ngày.

 

Cuối cùng, dữ liệu được thảo luận có sự liên hệ với dữ liệu của các nghiên cứu trên động vật đã được thực hiện phối hợp với TS. Joseph Cochin và Gilbert Carnathan tại Khoa Dược, Đại học Boston.

 

Các kết quả:

 

Bảng 1 trình bày các điều kiện có trong thí nghiệm của nghiên cứu mù đôi và không mù. Lượng heroin và số lần sử dụng dưới các điều kiện này được so sánh. Tần suất sử dụng heroin dưới các điều kiện có bị cản trở (blocked conditions) có tương quan tích cực với số năm được báo cáo là có sử dụng heroin (Spearman r = 0.45, p = < .01) và tương quan tiêu cực với độ tuổi bắt đầu sử dụng heroin (r = -0.33, p < .05) (nghĩa là tuổi bắt đầu dùng heroin càng trẻ thì càng có khả năng có tần suất cao hơn). Các yếu tố về nhân khẩu học khác (số tháng trong tù và số lần đã điều trị trước đây) không cho thấy có bất cứ mối quan hệ với tần suất sử dụng dưới các điều kiện có bị cản trở ở trong khu điều trị. Kiểm tra ban đầu với phương pháp Mann-Whitney U test để đánh giá ảnh hưởng của độ lớn của nhóm, tính đồng nhất của nhóm thử, các điều kiện có trong nghiên cứu mù đôi đối lập với những điều kiện có trong nghiên cứu thường khác với sự có mặt của chất đối kháng ma tuý. Không có yếu tố nào trong số này được dùng để phân biệt các tỷ lệ sử dụng heroin dưới các điều kiện có bị cản trở. Thực ra thì các đối tượng có thâm niên nghiện lâu hơn (7-20 năm) sử dụng heroin nhiều hơn so với nhóm có thâm niên nghiện ít hơn (4-6 năm). Hình 1, 2 và 3 minh hoạ chiều hướng sử dụng heroin của 3 đối tượng có thâm niên ít hơn và các Hình 4,5 và 6 minh hoạ cho 3 đối tượng có thâm niên nghiện dài hơn.

 

Theo phương pháp của nghiên cứu mù đôi, một số bệnh nhân trải qua phần kháng ma tuý theo nhóm mà trong đó không có đối tượng bị cản trở, đồng thời một số đối tượng khác lại trải qua phần kháng với sự có mặt của các đối tượng vẫn đang “lên cơn nghiện”. Trong nghiên cứu này mới chỉ có 3 đối tượng trải qua kháng ma tuý trong điều kiện là trong nhóm có cả các đối tượng vẫn đang sử dụng heroin. Bảng II trình bày số liệu kết quả. Sự khác nhau giữa các nhóm chưa có ý nghĩa về mặt thống kê bởi số lượng đối tượng trong nghiên cứu không nhiều. Ngoài ra, hai trong số ba đối tượng trong nghiên cứu này có thâm niên sử dụng heroin trên 7 năm.

 

Quan hệ giữa việc cản trở/kháng (blockade) trong khu vực điều trị và việc sử dụng Naltrexone tại cộng đồng:

Cuối cùng, chúng tôi đã thực hiện kiểm tra mối quan hệ giữa việc sử dụng heroin dưới các điều kiện cản trở/kháng trong khu nghiên cứu và động lực tự giác dùng thuốc Naltrexone tại cộng đồng, ít nhất là một ngày sau khi xuất viện. Thấy không có mối quan hệ nào giữa việc sử dụng thuốc kháng tại cộng đồng và tần suất sử dụng dưới các điều kiện kháng trong khu nghiên cứu. Cũng không có sự khác biệt về mặt thống kê trong kết quả giữa nhóm dùng giả dược trong nghiên cứu (và có “lên cơn” đói heroin) và nhóm dùng thuốc kháng ma tuý. Do vậy, sự có mặt của các cá nhân vẫn lên cơn dùng ma tuý không có ảnh hưởng mấy tới việc sử dụng naltrexone tại cộng đồng.

 

Qua một thời gian là 3 năm, có 83 bệnh nhân tham gia vào chương trình nghiên cứu (loại 4 giường),*. có 49 người đủ tiêu chuẩn để đưa tiếp vào giai đoạn sử dụng Naltrexone tại cộng đồng. Trong 49 người đủ tiêu chuẩn điều trị ngoại trú này thì chỉ có 40 người là đã sử dung thực sự Naltrexone tại cộng đồng. Trong các nghiên cứu không mù đôi (non-double-blind studies) (Nhóm 1- Group 1), 21 đối tượng đã tham dự và có 10 đủ tiêu chuẩn dùng Naltrexone tại cộng đồng;**  trong các nghiên cứu mù đôi trước giai đoạn có thưởng tiền khi dùng Naltrexone tại cộng đồng (Nhóm 2), có 30 bệnh nhân tham gia và có 15 người đủ tiêu chuẩn dùng Naltrexone; trong khi tại các nghiên cứu mù đôi sau khi chúng tôi tiến hành việc thưởng tiền khi dùng Naltrexone tại cộng đồng (Nhóm 3), có 32 bệnh nhân tham gia và có 23 người đủ tiêu chuẩn dùng Naltrexone tại cộng đồng. (Bảng III). Toàn bộ 10 đối tượng trong Nhóm 1 đã sử dụng thực sự Naltrexone tại cộng đồng trong khi chỉ 5 trong số 15 và 19 người trong số 23 của các nhóm còn lại là có sử dụng thực sự Naltrexone tại cộng đồng. Xác định theo thang Chi-square cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa quan trọng về mặt thống kê trong việc sử dụng thực sự Naltrexone của các đối tượng trong các Nhóm 1 và 3 so sánh với Nhóm 2. Kiểm tra theo T-test được thực hiện để so sánh việc sử dụng Naltrexone dài ngày của các bệnh nhân thuộc 3 nhóm, là những người đã sử dụng Naltrexone thực sự tại cộng đồng. Việc sử dụng Naltrexone trung bình tại các thời điểm là một tháng, ba tháng và sáu tháng của 3 nhóm được so sánh với nhau. Xu hướng là bệnh nhân trong Nhóm 1 (p = < 0.1) sử dụng Naltrexone tại cộng đồng lâu hơn bệnh nhân trong Nhóm 2 và 3. Không có sự khác biệt về việc sử dụng Naltrexone trong 3 nhóm tại thời điểm khoảng tháng thứ 6. Trong 10 bệnh nhân vẫn duy trì Naltrexone được trên 90 ngày, thì 7 người tái nghiện sau khi dừng sử dụng Naltrexone, 2 người vẫn duy trì không ma tuý, và một người vẫn tiếp tục theo dùng Naltrexone và tham gia phần tư vấn cá nhân. Cả hai bệnh nhân sau khi ngưng sử dụng Naltrexone vẫn duy trì được trạng thái không ma tuý đã thay dổi chỗ ở và có được việc làm ổn định. Trong 7 người tái nghiện sau khi ngưng sử dụng Naltrexone thì chỉ trừ có một người, thì còn lại đều không còn việc làm tại thời điểm tái nghiện. 6 bệnh nhân sử dụng Naltrexone tại cộng đồng được từ 60 đến 90 ngày thì chỉ trừ có một trường hợp còn toàn bộ bị tái nghiện. Ngoại lệ đơn lẻ vẫn duy trì có việc làm sau khi tái nghiện gồm một trường hợp và thêm một trường hợp khác thì đã sang một bang khác để chốn khỏi sự truy nã. Chúng tôi không có thông tin thêm về trường hợp này. 6 bệnh nhân đã sử dụng Naltrexone được từ 30 đến 60 ngày và 4 trong đó đã tái nghiện sau khi dừng không dùng Naltrexone, 2 người còn lại hiện vẫn đang theo điều trị. 18 bệnh nhân đã sử dungj Naltrexone được từ 0 đến 30 ngày (tại ngày 30/4), 3 bệnh nhân vẫn đang duy trì sử dụng Naltrexone theo chương trình điều trị. Số còn lại đều tái nghiện. Việc tái nghiện của rất nhiều người bệnh, chúng tôi không cho là một kết quả tồi tệ không thể tránh khỏi bởi cũng có khá nhiều người sau khi tái nghiện đã quay trở lại điều trị với liều duy trì Methadone, tham gia nhóm trợ giúp, và một số là dùng Naltrexone.

 

Quan hệ giữa Thông tin cá nhân, các điều kiện trong thí nghiệm và Kết quả:

Bệnh nhân khi đựơc nhập viện đều phải điền vào các mục về nhân khẩu học theo mẫu (của Đại học Cơ đốc Texas – TCU, Viện Nghiên cứu Hành vi, Hồ sơ trong chương trình cai nghiện), những thông tin này được dùng để phân tích. Sử dụng giải pháp của Varimax về luân phiên trực giao, tính các mục bằng cách lấy trung bình của các mục có kết quả từ 0.40 trở lên sau khi các mục đã được chuyển đổi sang T-score chuẩn. Có 7 yếu tố được lấy. Có 3 nhóm kết quả được đem so sánh là: bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn nhưng thất bại với dùng Naltrexone; bệnh nhân sử dụng Naltrexone từ 1 – 30 ngày; và bệnh nhân đã sử dụng Naltrexone được trên 30 ngày. Phân tích theo 2 chiều về sự khác nhau đã so sánh bệnh nhân của 3 nhóm đối với 7 yếu tố. 2 yếu tố liên quan đến kết quả với Naltrexone. Những bệnh nhân bắt đầu sử dụng ma tuý khi còn ít tuổi, cũng bị bắt giữ khi còn ít tuổi, đã tham gia một số chương trình điều trị, không được nuôi dưỡng bởi cả bố và mẹ cho đến năm 12 tuổi, có xu hướng xấu hơn (F = 4.59, p < .015). Ngoải ra, nhóm bệnh nhân có mẹ (F = 1.631, p < .210) và có bố (F = 1.776, p < .184) có trình độ văn hoá thấp lại có xu hướng tốt hơn khi sử dụng Naltrexone. Phân tích theo thang chi-square của các thông số/ mục về nhân khẩu học của cá nhân đã được điều trị đã xác nhận các mối quan hệ đó. Ngoài ra, các bệnh nhân sống cùng vợ/chồng, cha mẹ hoặc người thân cũng có xu hướng tốt hơn nhóm chỉ sống với bạn bè, sống một mình, hoặc không ổn định. (Chi-square = 13.583, p < .194). Nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu mù đôi với việc sử dụng Naltrexon tại cộng đồng mà không được tiền thưởng (1$ /ngày) cũng kém hơn đáng kể so với nhóm trong nghiên cứu thường (không mù/nonblind) hoặc nhóm trong nghiên cứu mù đôi, sử dụng Naltrexone tại cộng đồng có thưởng (Chi-square = 21.592, p < .002).

 

Tóm lại chúng tôi có thể nói rằng việc thách thức đối với kháng ma tuý tại cộng đồng là không phổ biến. Nếu trường hợp này xảy ra thì bệnh nhân làm như vậy bởi họ cho rằng tác dụng của thuốc kháng ma tuý đã hết. Xen kẽ với đó là việc bệnh nhân báo cáo cho rằng họ gặp phải những tác nhân kích thích và dùng Naltrexone để tăng cường quyết tâm cai trừ ma tuý.

 

 

 

Thủ tục ký thoả thuận đồng ý:

Thoả thuận đồng ý của người nghiện heroin với chương trình nghiên cứu đôi khi có liên quan đến việc sử dụng heroin là một vấn đề cần xem xét cẩn thận. Ngoài những nghiên cứu về con người do uỷ ban xem xét, thì dự án này cũng được nghiên cứu cẩn thận bởi một nhóm người từ Ban kế hoạch phòng chống nghiện ma tuý của Thống đốc bang Massachusett và nhân viên của Bộ y tế chuyên quản khu vực. Ở mức liên bang thì các uỷ ban của Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm và Viện sức khoẻ tâm thần quốc gia xem xét các thủ tục liên quan đến đạo đức và tính nhân văn cũng như các vấn đề về lợi ích và rủi ro đối với đối tượng.

 

Toàn bộ bệnh nhân được nhập viện từ các cơ sở phục hồi cai nghiện ở Massechusett hoặc qua giới thiệu của các bệnh nhân cũ. Trước khi được chấp nhận vào chương trình, từng người được kiểm tra về thể chất và tâm thần. Bệnh nhân đều được hướng dẫn đến các cơ sở khác để cai trừ độc tố nghiện (detoxification) nội trú hoặc ngoại trú trước khi tham gia vào chương trình nghiên cứu này và trước khi tham gia họ được phát một cuốn sổ tay bệnh nhân từ 8 đến 10 trang. Họ cũng được dẫn đi tham quan khu vực nghiên cứu và Bệnh viện McLean, được có cơ hội trò chuyện với các bệnh nhân.

 

Vào ngày nhập viện, bệnh nhân được phỏng vấn bởi một luật sư (cũng là một thành viên trong Uỷ ban nghiên cứu về con người của bệnh viện); sau khi nhận thấy bệnh nhân đã thông báo và hiểu đầy đủ về bản chất của dự án, họ ký vào bản cam kết đồng ý. Không tiếp nhận bệnh nhận bệnh nhân từ các cơ quan thi hành án, tất cả bệnh nhân đều là tự nguyện, được tự do quyết định dời khỏi dự án vào bất cứ lúc nào. Mỗi người có thể nhận được một khoản lên đến 700$ khi tham gia vào chương trình. Trường hợp nếu họ bỏ dở thì vẫn được phép giữa khoản tiền đã nhận.

 

 

Các lập luận về điều trị bằng chất đối kháng ma tuý thường tập trung chủ yếu vào các yếu tố điều kiện gây nghiện. Wikler là người tiên phong (năm 1948), với các thực nghiệm và quan sát trên lâm sàng của mình đã gây nhiều chú ý và quan tâm trong lĩnh vực này. Hiện nay thì thuốc đã có sẵn và xem ra phù hợp với các tiêu chuẩn đối với một thuốc đối kháng được phép sử dụng trên lâm sàng, vậy chúng ta tiếp tục ứng dụng cơ sở lý luận này như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên chúng ta phải kiểm chứng lại một số yếu tố điều kiện gây nghiện ma tuý ở người. Ở đây thì những nghiên cứu trên động vật không có giá trị (xem Wikler, 1973 để thấy một tổng kết toàn diện), những yếu tố về nhận thức tạo ra sự ngoại suy trực tiếp với các tình huống trên lâm sàng rất khó khăn này.