SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

trangtamly.wordpress.com

SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) trong điều trị nghiện là một dạng phương pháp trị liệu thông qua trò chuyện, dựa trên các nguyên tắc tâm lý học hành vi và các học thuyết về nhận thức. Thuyết hành vi tập trung vào các hành vi hay hành động do một người thực hiện. Học thuyết về nhận thức thì tập trung vào tri giác của con người – những thứ ta nhìn, nghe, cảm nhận, những suy nghĩ và cảm xúc.

Cognitive Behavioral Therapy for addiction, also known as Cognitive Behavior Therapy or CBT for short, is a type of “talk” therapy, based on the psychological principles of behaviorism and theories of cognition. Behaviorism focuses on the behaviors or actions a person takes, whereas theories of cognition focus on people’s perceptions — what they see, hear, and feel, their thoughts, and their emotions.

cbtblue-new

 

Nguồn: Central London

 

CBT là một biến thể của liệu pháp hành vi, tập trung vào việc thay đổi hành vi thông qua các tác nhân củng cố tích cực – tiêu cực, thưởng – phạt áp dụng lên các hành vi mà người đó muốn tăng cường hay giảm thiểu.

CBT is a variation of behavior therapy, which focuses on changing behavior through pairing positive and negative reinforcement, or rewards and punishments, with behaviors that the person wants to increase or decrease.

Các trải nghiệm của con người về mặt nhận thức bao gồm tri giác, suy nghĩ, cảm xúc và sự thấu hiểu. Việc thêm phân tích nhận thức vào liệu pháp hành vi dẫn tới sự hình thành của CBT, tức là ta sẽ xem xét cả những suy nghĩ và cảm nhận của con người về hành vi của họ. CBT đặc biệt khai phá các xung đột giữa cái ta muốn làm và cái ta thực sự làm.

The human experience of cognition includes our perceptions, thoughts, emotions and understanding. Adding analysis of cognition to behavior therapy led to the development of cognitive behavioral therapy by taking into account people’s thoughts and feelings about their behaviors. CBT particularly explores the conflicts between what we want to do and what we actually do.

CBT trong điều trị nghiện. Cognitive Behavioral Therapy for Addiction

Nghiện là một ví dụ điển hình về một dạng hành vi đi ngược lại với cái mà người ta muốn làm. Những người đang vượt qua căn bệnh này thường nói rằng họ muốn thay đổi những hành vi đó và có thể họ thực sự muốn ngưng sử dụng rượu, ma túy hoặc chấm dứt các hành vi mang tính ép buộc sử dụng các chất này, gây ra các vấn đề cho cuộc sống của họ. Tuy nhiên, những người này cũng thừa nhận thực hiện được những điều này là cực kỳ khăn.

Addiction is a clear example of a pattern of behavior which goes against what the person experiencing it wants to do. While people trying to overcome addictive behaviors will often say they want to change those  behaviors, and may genuinely want to quit alcohol, drugs, or other compulsive behaviors that are causing them problems, they find it extremely difficult to do so.

Ở CBT, các hành vi nghiện, như uống rượu bia, sử dụng ma túy, bài bạc, mua sắm không kiểm soát, nghiện game, nghiện ăn và các loại hành vi vượt mức khác là kết quả của các suy nghĩ lệch lạc và các cảm xúc tiêu cực kèm theo khác.

According to the cognitive behavioral therapy approach, addictive behaviors, such as drinking, drug use, problem gambling, compulsive shopping, video game addiction, food addiction, and other types of harmful excessive behavior, are the result of inaccurate thoughts and subsequent negative feelings.

CBT giải thích điều này bằng cách điều chỉnh mối tương tác giữa những suy nghĩ và cảm xúc của người bệnh. Các nhà tâm lý học nhận ra rằng rất nhiều người có những suy nghĩ dựa trên các niềm tin sai lệch, phi thực tế hoặc bất khả thi và những suy nghĩ này lần lượt sẽ gây ra các cảm xúc tiêu cực dọn đường cho lo âu, trầm cảm và các bệnh lý như nghiện. Bằng cách ghi nhận một cách có hệ thống các suy nghĩ và các cảm xúc, các sự kiện khiến ta nhớ đến chúng, và kết quả hành vi của các suy nghĩ và cảm xúc này, ta có thể bắt đầu thay đổi các quá trình phá hoại nỗ lực thay đổi hành vi của chúng ta.

Cognitive behavioral therapy explains this by clarifying the way that people’s thoughts and emotions interact. Psychologists realized that many of us have thoughts, based on beliefs that are untrue, unrealistic, or impossible to live up to, and these thoughts, in turn, cause negative feelings which feed anxiety, depression and conditions like addiction. By systematically recording our thoughts and associated feelings, along with the events that trigger those thoughts and feelings, and the behavior that we carry out as a result, we can begin to change the automatic processes that sabotage our efforts at changing our behaviors.

Bằng cách xem xét các kiểu suy nghĩ và cảm xúc thường gặp, ta có thể bắt đầu thay đổi suy nghĩ bằng cách chủ động xem xét hoàn cảnh một cách thực tế hơn, tránh dẫn đến các cảm xúc tiêu cực và chu kỳ lặp đi lặp lại của các hành vi có hại. Áp dụng các phần thưởng cho mỗi hành vi tốt sẽ giúp ta dần dần thay thế các hành vi đó, các hành vi tốt sẽ liên kết tạo ra các cảm xúc tích cực, và rồi mọi thức sẽ tự động diễn ra theo chiều hướng tốt hơn.

By looking at patterns of thoughts and feelings that we repeatedly experience, we can begin to change those thoughts by consciously looking at situations in more realistic ways, that do not automatically lead to negative emotions and resulting cycles of harmful behaviors. By rewarding ourselves for the healthier behaviors we replace those harmful behaviors with, over time, the healthier behaviors become associated with more positive emotions, and become more automatic.

CBT có khả năng theo dõi hành vi rất tốt, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính hiệu quả của nó trong việc điều trị trầm cảm, lo âu và các bệnh lý khác, bao gồm cả nghiện.

CBT has an excellent track record, with numerous studies demonstrating its effectiveness in treating depression, anxiety and other conditions, including addiction.

CBT trở nên phổ biến cho đến cuối thế kỷ XX, sau đó liệu pháp này được định hình lại và thay thế bởi các liệu pháp hành vi “làn sóng thứ ba”, tập trung nhiều hơn vào chánh niệm, học cách chấp nhận và sống cho thực tại. Một số liệu pháp có thể liệt kê ở đây là Liệu pháp Tiếp nhận và Cam kết (ACT), Liệu pháp Hành vi Biện chứng (DBT), Liệu pháp Nhận thức dựa trên Chánh niệm và Liệu pháp tâm lý Phân tích Chức năng.

The CBT approaches that became popularized towards the end of the 20th century are themselves being refined and replaced by so-called “third wave” of behavior therapy, which focus on mindfulness, acceptance and being in the moment. These approaches include Acceptance and Commitment Therapy (ACT), Dialectical Behavioral Therapy (DBT), Mindfulness-Based Cognitive Therapy, and Functional Analytic Psychotherapy.

Nguồn: https://www.verywell.com/cognitive-behavioral-therapy-for-addiction-21953

Như Trang.

CÁC PHƯƠNG PHÁP  PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP 
PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

A. CÁCH PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY

Kế hoạch phòng ngừa tái nghiện luôn được vạch định kỹ lưỡng tùy theo từng đối tượng. Họ được học tập và trang bị nhiều kiến thức, những kỹ năng để vượt qua những yếu tố nguy cơ.

Việc tái nghiện không bao giờ là một hành vi nhất thời – Nó là một quá trình tư tưởng nhận thức mà hành vi cuối cùng là tái nghiện.

Vì vậy, việc phục hồi cho những người nghiện ma túy không những là một quá trình từ bỏ sử dụng ma túy, mà còn duy trì được trạng thái sống không có ma túy, kèm theo với những thay đổi nội tâm cùng với những thay đổi trong quan hệ cá nhân. Một bệnh nhân không có các thay đổi này thì tình trạng sống không có ma túy chỉ kéo dài một thời gian ngắn, sau đó là sự tái nghiện.

I/ GIAI ĐOẠN BÁO HIỆU TÁI NGHIỆN:

Sa ngã là giai đoạn đầu tiên sử dụng rượu hay sử dụng ma túy ngay sau quá trình phục hồi. Giai đoạn sa ngã có thể đưa đến tái nghiện hoặc không. Một bệnh nhân khi rời khỏi Trung tâm rất thường hay sa ngã. Sa ngã mang tính chất ngẫu hứng, tò mò muốn thử lại xem sao.

Sa ngã chưa phải là tái nghiện. Trước khi tái nghiện, bệnh nhân phải trải qua một quá trình tư tưởng được lộ qua những triệu chứng những dấu hiện đe đọa việc họ sẽ quay trở về với ma túy.

Khi có những cảm giác thèm thuốc, những suy nghĩ đấu tranh nội tâm của bệnh nhân khởi phát. Nếu bệnh nhân đầu hàng, hành vi tái nghiện sẽ xảy ra.

Cảm giác thèm thuốc luôn luôn gây nên một quá trình nhận thức lệch lạc. Những nguyên nhân khách quan và chủ quan tạo cảm giác như sau:

tái nghiện ma túy

 Về hành vi, bệnh nhân có những biểu hiện:

–  Sử dụng những chấy gây nghiện khác: rượu, thuốc ngủ….

–  Vẻ căng thẳng tâm trí, bối rối do xung đột nội tâm.

–  Hưng phấn hay trầm cảm quá độ.

II/ NHỮNG ĐỘNG CƠ CHÍNH GÂY TÁI NGHIỆN:

Gồm hai nhóm đặc tính: nội tâm bệnh nhân và những quan hệ cá nhân của đối tượng, hoặc cả hai cùng phối hợp.

1/ VỀ CẢM XÚC:

Do hoàn cảnh sống, bệnh nhân nếu bị trầm cảm hay hưng phấnHai trạng thái này đều dễ dẫn tới tái nghiện.

2/ VỀ HÀNH VI:

·         Người nghiện rất thường thiếu kỹ năng xử lý tình huống. Họ dễ bị lôi cuốn khi gặp bạn bè cũ, nhữngtình huống nguy cơ.

·         Những thời gian nghiện ngập tạo cho bệnh nhân một phản xạ xấuthấy ma túy là sử dụng (tính bốc đồng khi có cơ hội).

3/ VỀ NHẬN THỨC:

·         Kém nhiệt tình học tập trong quá trình điều trị, tiếp thu kém.

·         Không tin rằng mình có khả năng đoạn tuyệt với ma túy.

·         Có thương tổn trong đầu óc, không còn khả năng tiếp thu điều trị.

4/ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUAN HỆ CÁ NHÂN:

·         Thiếu hỗ trợ của gia đình và xã hội.

·         Bị áp lực của bạn bè xấu.

·         Thất nghiệp hay lâm vào hòan cảnh khó khăn.

·         Để thì thời gian nhàn rỗi quá nhiều.

5/ VỀ MẶT SINH LÝ HỌC:

·         Không thắng được cảm giác thèm thuốc.

·         Có bệnh đau mãn tính.

6/ VỀ MẶT TÂM THẦN, TÂM LINH:

·         Có mặc cảm tội lỗi, xấu hổ âm thầm trong nội tâm không xóa được.

·         Cảm giác trống rỗng chẳng có mục đích ý nghĩa gì

7/ VỀ TRUNG TÂM CAI NGHIỆN:

·         Nhân viên điều trị đã gây ra ấn tượng xấu vào tâm trí bệnh nhân.

·         Kế hoạch điều trị không thích ứng.

·         Kế hoạch theo dõi hậu cai chưa đầy đủ.

III/ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN:

 1/ PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN HEROIN: 

1.1 MỤC TIÊU:

–   Cho người cai nghiện sử dụng thuốc NALTREXONE để đối tượng không còn thèm nhớ và tìm kiếm ma túy.

–   Hoặc sử dụng thuốc Methadone là một chất gây nghiện nhưng ít độc hại hơn Heroin, giá cả rẻ hơn Heroin.

–   Methadone sử dụng uống nên không gây lây nhiễm các bệnh HIV/AIDS, viêm gan siêu vi B – C

–   Việc điều trị thuốc Naltrexone hoặc Methadol phải tùy thuộc vào hoàn cảnh, bệnh lý từng đối tượng

–   Trang bị cho người nghiện kỹ năng vượt qua cảm giác thèm thuốc, ví dụ bỏ qua không chú ý đến cảm giác của bản thân, giữtâm hồn vững vàng, luyện tập hô hấp hít thở sâu đều đặn bằng ý chí, các phương pháp thiền kết hợp với kỹ năng tư vấn – liệu pháp tâm lý – liệu pháp giáo dục – liệu pháp xã hội.

–   Trang bị cho người nghiện khả năng sử lý tình huống nguy cơ cao. Ví dụ tham gia vui chơi giải trí, văn hóa thể thao, làm những việc hữu ích như giúp đỡ bạn nghiện, sống cuộc sống điều độkhông cần tời bất kỳ một chất gây nghiện nào, nhất là rượu.

–   Chuẩn bị tinh thần đối phó với tình huống có thể bị sa ngã khi có thời cơ như đi phép, thấy có ma túy trong tầm tay.

 

ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC CHO

NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY NHÓM OMH

(OPIUM * MORPHINE * HEROIN)

(THUỐC PHIỆN * MOCPHIN * HÊ-RÔ-IN)

 

CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY NHÓM OMH BẰNG THUỐC NALTREXONE

THAY THẾ  ĐIỀU TRỊ NGHIỆN NHÓM OMH BẰNG THUỐC METHADONE

I. KHÁI QUÁT:

1. Naltrexone là chất đối kháng nhóm OMH.

2. Naltrexone được sử dụng để loại trừ cảm giác thèm nhớ ma túy nhóm OMH.

3. Naltrexone không gây nghiện.

4. Uống thuốc 3 lần / tuần.

5. Ngừng thuốc Naltrexone bệnh nhân không bị hội chứng cai.

I. KHÁI QUÁT:

1.  Methadone chất đồng vận nhóm OMH

2.  Methadone được sử dụng để thay thế khoái cảm của ma túy nhóm OMH.

3.  Methadone là chất gây nghiện.

4.  Uống thuốc mỗi ngày.

5.  Ngừng thuốc Methadone bệnh nhân bị hội chứng cai.

II. DƯỢC LỰC HỌC:

   –  Naltrexone vào hệ thần kinh Trung ương bịt lỗ khóa các thụ thể µ, k, Δ, … ở các recepter của não, vô hiệu hóa các tác dụng gây nghiện của các chất nhóm OMH.

II. DƯỢC LỰC HỌC:

   –  Methadone vào hệ thần kinh Trung ương tác động vào các thụ thể µ, k, Δ, … ở các recepter của não: tác dụng giảm đau, êm dịu, giảm hô hấp, giảm ho, gây khoái cảm nhưng yếu hơn nhóm OMH.

III. DƯỢC ĐỘNG HỌC

1. Hấp thu:

   + Hấp thu nhanh qua đường uống

   + Nồng độ phân bổ trong huyết tương cao nhất 1 giờ sau khi uống.

III. DƯỢC ĐỘNG HỌC

1. Hấp thu:

   + Hấp thu nhanh qua đường uống

   + Nồng độ phân bổ trong huyết tương cao nhất  3 – 4 giờ sau khi uống.

2. Phân bổ chuyển hóa:

   * Phân bổ trong các mô và huyết tương.

   * Chuyển hóa ở ganthành 6 β Naltrexone, chất chuyển hóa có tác dụng đối kháng nhóm OMH.

   *Thời gian bán hủycủa Naltrexone khoảng 4 giờ. Thời gian bán hủy của  6 β Naltrexone khoảng 10 giờ.

2. Phân bổ chuyển hóa:

   * Phân bổ trong các mô và huyết tương.

   * Chuyển hóa ở ganthông qua men Cytochrome P450, chất  chuyển hóa không có tác dụng.

   * Thời gian bán hủycủa Methadone  khoảng 24 giờ.

 

3. Thải trừ:

Chủ yếu thải trừ qua thận, nước tiểu.

3. Thải trừ:

Chủ yếu thải trừ qua thận, nước tiểu.

IV.TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:

1.  Thường gặp: mất ngủ, lo âu, mệt mỏi, đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu, đau cơ, chóng mặt, dễ kích thích, tăng tiết mồ hôi, cảm giác khát, chảy nước mũi, ăn không ngon…

2.  Giai đoạn đầu: thường có một số tác dụng không mong muốn nhẹtrung bình. Giảm dần theo thời gian, thường mất sau vài ngày đến vài tuần.

IV.    TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:

  1. Thường gặp: rối loạn giấc ngủ, buồn nôn, nôn, táo bón, khô miệng, tăng tiết mồ hôi, giãn mạch, gây ngứa, giữ nước, tăng cân, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chức năng tình dục…

  2. Ít gặp các tác dụng không mong muốn.

Tuy nhiên triệu chứng táo bón, rối loạn chức năng tình dục, tăng tiết mồ hôi vẫn có thể tồn tại trong quá trình điều trị.

V. CHỈ ĐỊNH:

Cho người đã cắt cơn và có nguyện vọng được sử dụng Naltrexone để hỗ trợ điều trị chống tái nghiện.

1.   Những người mới nghiện nhóm OMH đã được cắt cơn, giải độc.

2.   Những người đã điều trị cắt cơnđược phục hồi chức năng tâm lý xã hội.

3.   Những người nghiện nhóm OMH đã được điều trị bằng liệu pháp Methadone có nguyện vọng chuyển sang điều trị hỗ trợ chống tái nghiện bằng thuốc Naltrexone (sau khi được cắt cơn từ 7 – 10 ngày).

 

 

V. CHỈ ĐỊNH:

Cho những người nghiện ma túy nhóm OMH có nguyện vọng được điều trị thuốc thay thế Methadone.

1.   Những người nghiện ma túy nhóm OMH một thời gian quá dài.

2.   Những người đã cai nghiện nhiều lần nhưng thất bại.

3.   Những người nghiện nhóm OMH đã được điều trị bằng liệu pháp Naltrexone nhưng thất bại nhiều lần.

4.   Người nhiễm HIV giai đoạn cuối.

5.   Phụ nữ nghiện nhóm OMH đang mang thai.

6.   Ung thư

7.   Có nhiều tiền án, tiền sự

VI. CHỐNG CHỈ ĐỊNH:

1.     Người bệnh quá mẫn cảm với thuốc, dị ứng với Naltrexone, tá dược của thuốc.

2.     Người bệnh bị tổn thương gan nặng, viêm gan cấp.

3.     Người bệnh đang trong giai đoạn cắt cơn giải độc ma túy nhóm OMH hoặc đang sử dụng các loại thuốc có chứa các chất nhóm OMH.

4.     Người bệnh đang bị rối loạn tâm thần nặng.

 

VI.CHỐNG CHỈ ĐỊNH:

1.     Người bệnh quá mẫn cảm với thuốc, dị ứng với Methadone, tá dược của thuốc.

2.     Người bệnh bị tổn thương gan nặng, viêm gan cấp.

3.     Người bệnh đang trong thời gian điều trị bằng thuốc đồng vận, đối vận, hoặc vừa đồng vận, vừa đối vận với ma túy nhóm OMH (LAAM, Naltrexone, Buprenophine….).

4.     Người bệnh đang bị rối loạn tâm thần nặng.

 

VII. THẬN TRỌNG:

Thận trọng sử dụng Naltrexone cho những người đã cai nghiện các chất nhóm OMH gồm:

1.   Người bệnh nghiện đồng thời nhiều loại ma túy.

2.   Người bệnh bị bệnh tâm thần.

3.   Người bệnh có tổn thương gan, thận.

4.   Người bệnh là phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

5.   Người bệnh nhiễm HIV giai đoạn cuối.

6.   Người bệnh dưới 18 tuổi.

 

VII. THẬN TRỌNG:

Thận trọng sử dụng Methadone  cho những người nghiện nhóm OMH gồm:

1.     Người bệnh nghiện đồng thời nhiều loại ma túy.

2.     Người bệnh bị bệnh tâm thần.

3.     Người bệnh có tổn thương gan, thận.

4.     Người bệnh có tiền sử sử dụng Naltrexone.

5.     Người bệnh nghiện rượu

6.     Người có bệnh mãn tính: hen, phế quản, suy thượng thận, suy giáp, phì đại tuyến tiền liệt, đái tháo đường.

 

VIII. TƯƠNG TÁC THUỐC:

1.Không sử dụng Naltrexone với các thuốc có chứa các chất nhóm OMHnguy cơ ngộ độc các chất nhóm OMH do mất khả năng dung nạp.

2.Khôngsử dụng Naltrexone với Thioridagine vì có nguy cơ gây ngủ gà, đờ đẫn, ngộ độc.

 

 

 

 

 

VIII. TƯƠNG TÁC THUỐC:

1. Các thuốc kích thích men cytochrome P 450 của gan làm tăng chuyển hóa Methadone do đó làm giảm nồng độ Methadone trong máu. Các thuốc ức chế cytochrome P450 của gan làm giảm chuyển hóa Methadone, do đó làm tăng nồng độ Methadone trong máu.

2. Một số thuốc kháng HIV(Neviropine, Efavirang) làm tăng chuyển hóa Methadone do dó làm giảm nồng độ Methadone trong máu.

3. Một số thuốc hướng thần như Benzodiazépine có thể làm tăng tác dụng của Methadone do đồng tác dụng.

4. Rượu đồng tác dụng với Methadone trên hệ hô hấp gây nguy cơ suy hô hấp.

 

 

IX. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ:

Phải duy trì ít nhất là 12 tháng.

 

IX. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ:

Thời gian điều trị tùy từng cá nhân không có điểm giới hạn, thậm chí có thể suốt đời.

DÙ PHƯƠNG THỨC ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC ĐỐI KHÁNG NALTREXONE HAY THUỐC THAY THẾ METHADONE THÌ BIỆN PHÁP TƯ VẤN – LIỆU PHÁP TÂM LÝ – LIỆU PHÁP GIÁO DỤC – LIỆU PHÁP XÃ HỘIRẤT QUAN TRỌNG. NẾU NGƯỜI CAI NGHIỆN CHỈ SỬ DỤNG ĐƠN THUẦN THUỐC NALTREXONE HOẶC METHADONE KẾT QUẢ SẼ HẠN CHẾ.

 

1.2/ KẾ HOẠCH:

–      Giúp bệnh nhân xác định được nguyên nhân dẫn dắt họ đi vào ma tuý.

–      Nhân viên điều trị phải tìm ra những yếu tố nguy cơcủa bệnh nhân và giúp họ nhận thức được chúng, học tập khả năng vượt qua chúng.

–      Giúp cho bệnh nhânhiểu rằng tái nghiện là một quá trình xảy ra trong nội tâm bệnh nhân và cuối cùng dẫn đến là một hành vi tái sử dụng.

–      Giúp bệnh nhân hiểu được tại sao có cảm giác thèm thuốctrong tư tưởng và học tập để vượt qua cảm giác ấy.

–      Giúp bệnh nhân hiểu và có thể đương đầuvới áp lực củabạn bè cũphe nhóm xấu muốn họ tái nghiện.

–      Giúp bệnh nhân có một tổ chức hỗ trợ.

–      Nếu bệnh nhân bị vui hay buồn quá độ, giúp họ nhận ra tình trạng bất thường ấy để tìm cách vượt qua.

–      Nếu bệnh nhân có những nhận thức sai lạc, giúp họ cách xử lý chúng.

–      Giúp bệnh nhân hướng tới một lối sống điều độ, cân bằng.

–      Giúp bệnh nhân tự xây dựng cho mình những biện pháp phòng chống sa ngã và tái nghiện.

1.3/ BIỆN PHÁP:

Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính – khó chữa – dễ tái phát nhưng có thể chữa được.

Não bộ thể hiện những thay đổi một cách rõ ràng sau sử dụng ma túy và những thay đổi này vẫn còn tồn tại rất lâu sau khi đã ngừng sử dụng ma túy.

Điều trị sẽ cho kết quả tốt nhưng với điều kiện:

+ Đúng phương pháp

+ Đúng thời gian

+ Đúng thuốc

+ Đúng người bệnh

Việc PHÒNG BỆNH – CHỮA BỆNH và CHỐNG TÁI NGHIỆNsau cai là BA VẤN ĐỀ LỚN phải được tác nghiệp đồng bộ, phải có một chiến lược khoa học thống nhất – kiên quyết – xuyên suốt – khép kín – kịp thời – thích ứng với đặc điểm của mỗi trường hợp. Bởi lý do nghiện rất đa dạng và phức tạp bắt nguồn từ những xáo trộn khác nhau về cuộc sống, các vấn đề nội tâm – gia đình và xã hội cho nên việc điều trị cai nghiện thích ứng với một bệnh nhân này lại không thích ứng cho bệnh nhân khác, nhưng dù bất cứ bệnh nhân nào, việc điều chỉnh nhận thức – hành vi và nhân cách là điều phải làm, dẫu dùng phương pháp Methadone hoặc chất đối kháng Naltrexone.

Việc kết hợp quản lý bệnh nhân bằng các dịch vụ y tế cùng các liệu pháp tâm lý – giáo dục, thỏa mãn mọi yêu cầu điều trịcủa đối tượng là trọng tâm của mọi kế hoạch điều trị. Chương trình điều trị phải đề ra biện pháp trên cơ sở tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, cha mẹ, hoàn cảnh, công ăn việc làm, cũng như tiền sử lạm dụng sức khỏe, lạm dụng tình dục của bệnh nhân. Việc điều trị phải được tiến hành dài ngày với những biện pháp khác nhau theo từng giai đoạn tiến triển của bệnh nhân.

Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính có đặc điểm là dễ tái nghiện sau khi cai cho nên điều trị phải là một quá trình dài, bao gồm những biện pháp đa dạng và sự nỗ lực tối đa, ngay cả khi bệnh nhân đã trở về tái hòa nhập cộng đồng. Nhưng do hiểu biết chưa đủ về tính chất nghiện của ma túy lại xảy ra tình trạng bệnh nhân đông, số nhân viên thì íttrình độ hiểu biết về ma túy có mặthạn chế, tình trạng săn sóc hậu cai không đúng mức nên tỷ lệ tái nghiện hiện nay là rất cao.

Cai nghiện ma túy được gọi là thành công phải đạt được 4 yếu tố:

+ Không tái sử dụng ma túy

+ Có một lối sống chuẩn mực, tự quản lý bản thân

+ Thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức

+ Phục hồi được hệ thống não bộ đã bị tổn thương, ngộ độc vì ma túy.

2. PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY TỔNG HỢP DẠNG KÍCH THÍCH

2.1. CÁC QUY TẮC GIẢM NGUY CƠ (TÁC HẠI):

– Giảm nguy cơ dựa trên khái niệm về “bậc thang mục tiêu điều trị”

– Thừa nhận rằng, đối với một số người, việc từ bỏ ma túy là rất khó khăn và tái nghiện là một phần của quá trình phục hồi.

– Thừa nhận rằng cần có các can thiệp tạm thời để đảm bảo rằng người sử dụng không bị ảnh hưởng sức khỏe không thể hồi phục (như bị nhiễm HIV/Viêm gan B hoặc C) hoặc tử vong do quá liều hoặc hành vi nguy cơ khác.

2.2. GIẢM NGUY CƠ, CÁC NẤC THANG MỤC TIÊU:

Nếu không thể ngừng sử dụng ma túy trong thời gian ngắn:

 Giảm số loại ma túy và số lượng từng loại (VD: tiêu ít tiền hơn cho ma túy).

–  Giảm số lần dùng (như chỉ dùng vào cuối tuần; một lần/tháng, trong các dịp đặc biệt).

–  Không tiêm chích ma túy

–  Nếu tiêm chích, không chích chung.

–  Nếu dùng chungđảm bảo rằng bơm kim tiêm được làm sạch.

2.3. GIẢM NGUY CƠ/ GIẢM TÁC HẠI:

Kết quả tích cực từ mạng lưới can thiệp đồng đẳng:

– Thử nghiệm ngẫu nhiên can thiệp đồng đẳng trong nhóm thanh thiếu niên sử dụng Methamphetamine ở ChiangMai, Thái Lan (2005 – 2007).

–  Đối tượng trong cả hai nhóm đều báo cáo giảm sử dụng Methamphetamine rõ rệt (99% trong đánh giá ban đầu so với 53% sau 12 tháng).

–  Tăng sử dụng bao cao su liên tục rõ rệt, (32% trong đánh giá ban đầu lên 44% sau 12 tháng).

2.4. CÁC CHIẾN LƯỢC GIẢM TÁC HẠI CỤ THỂ:

– Tầm quan trọng của lập kế hoạch: khi người sử dụng nói kiên quyết “tôi sẽ không từ bỏ, tôi chỉ muốn giảm sử dụng”, các chiến lược có thể bao gồm hỗ trợ người sử dụng:

– Sử dụng ít hơn (tập trung vào mức độ sử dụng: số lượng hoặc số tiền tiêu cho chất gây nghiện).

– Giảm tần xuất sử dụng (chỉ sử dụng vào cuối tuần; 1 lần/tháng).

– Ổn định vể tâm lý xã hội: giúp ổn định các lĩnh vực khác trong cuộc sống của người sử dụng để họ lấy lại cảm giác kiểm soát được việc sử dụng chất gây nghiện của họ (xây dựng sự tự kiểm soát).

– Tất cả những biện pháp có tác dụng trong giảm tác hại đối với chất dạng thuốc phiện đều có tác dụng với Amphetamin:

Hoạt động đồng đẳng, giáo dục thay đổi hành vi nguy cơ.

– Điều trị nghiện hiệu quả dựa trên bằng chứng được triển khai để lôi cuốn sự tham gia, duy trì và đem lại lợi ích cho người sử dụng chất.

– Các chương trình trao đổi bơm kim tiêm/bao cao su.

2.5. CHƯƠNG TRÌNH GIẢM TÁC HẠI CHO NGƯỜI SỬ DỤNG CHẤT KÍCH THÍCH:

– Chương trình trao đổi bơm kim tiêm tại cộng đồng:   

– Nhân viên còn tiến hành phân phát bơm kim tiêm tại nhà và tại cộng

– Tiếp cận đồng đẳng trao đổi bơm kim tiêm thứ cấp

– Người sử dụng nhận dịch vụ tư vấn cá nhân và tư vấn nhóm về giảm tác hại

– Chuyên biệt cho sử dụng chất kích thích

– Người sử dụng được tiếp cận với dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, thông tin về HCV, các thông tin sức khỏe khác và được hỗ trợ khi cần.

– Người sử dụng được tiếp cận với các nguồn dịch vụ giảm tác hại khác nhau.

 

2.6. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC:

Khuyến nghị:

– Củng cố luật pháp

– Giải quyết bạo lực gia đình

– Vấn đề y tế công cộng STD/HIV

– Phúc lợi cho trẻ em

– Các bệnh nhiễm trùng

– Lạm dụng chất gây nghiện

– Sức khỏe tâm thần

– Đào tạo cán bộ điều trị

– Giáo dục

– Thông tin đại chúng

B. KẾT LUẬN:

Bốn vấn đề chính yếu trong công tác điều trị nghiện ma túy là:

1.   Sớm nhận biết các dấu hiệu của người sử dụng ma túy để điều trị kịp thời

2.   Trong phương pháp điều trị vấn đề gọt dũa, phục hồi nhận thức hành vi nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý và mâu thuẫn nội tâm là quan trọng nhất thông qua tư vấn, liệu pháp tâm lý, liệu pháp giáo dục, liệu pháp xã hội, lao động trị liệu, hoạt động trị liệu, giải trí trị liệu là rất cần thiết.

3.   Với người nghiện heroin, liệu pháp sử dụng thuốc giữ một vai trò quan trọng.

4.   Với người nghiện ma túy tổng hợp dạng kích thích do chưa có thuốc điều trị nên việc giảm nguy cơ, giảm tác hại là vô cùng cần thiết.

  

Cai nghiện và tái nghiện

1/.  Hỏi: Cháu ở nhà đã đi cai nghiện tập trung 03 năm sau đó tái nghiện, đã đi cai nghiện tại các trung tâm khác 3 lần. Lần này cháu nói với tôi cháu hứa sẽ rất quyết tâm cai nghiện để dứt bỏ ma túy, tôi tin vào cháu vì cháu bây giờ ngoan lắm, không cãi lại tôi nữa và đang có việc làm nên xin bác sĩ cho cháu vào cai 20 ngày.

Trả lời: Theo chúng tôi thì cai nghiện với thời gian ngắn như trên sẽ không có kết quả, vừa tốn kém vừa mỗi lần cai nghiện thất bại cháu và gia đình lại thêm chán nản,mất niềm tin. Vả lại, nếu cháu ngoan thì cháu đã không sử dụng lại ma túy, tại chị chiều cháu và cho cháu tiền nên chị nói gì cháu cũng nghe chứ không phải cháu ngoan đâu.

Chị cần hiểu rằng, quyết tâm cai nghiện của cháu là yếu tố tiên quyết chứ không phải yếu tố quyết định. Cai nghiện thành công là cai nghiện phải đúng phương pháp, đúng thời gian, cũng giống như một người muốn bơi qua sông, nhưng người đó có đủ sức khỏe không? Có biết bơi không? Có hiểu dòng sông sắp bơi như thế nào không? Nếu không đủ các yếu tố trên, có muốn bao nhiêu chăng nữachắc chắn người đó sẽ thất bại, thậm chí còn nguy hiểm. Chị nên đọc thêm bài “Những nguyên tắc cơ bản trong cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma túy” trên trang web của Trung tâm Thanh Đa.

10 ĐIỀU KHUYÊN GIẢI TRONG PHÒNG NGỪA TÁI NGHIỆN MA TÚY

Chương trình cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng duy trì uống Methadone thay thế ( Maintenance Methadone Treatment = MMT ) tại Thành phố hồ Chí Minh đã được tiến hành 4 năm.
Hàng ngàn người đã và đang tự nguyện (có xét chọn) tham gia chương trình với kết quả rất khả quan là giảm chi phí tiền bạc của bản thân và gia đình, cải thiện sức khỏe, vừa uống Methadone vừa đi làm hoặc học nghề.

Trong chương trình MMT, bệnh nhân phải trải qua khám sức khỏe tổng quát nhằm tìm các bệnh lý khác nếu có, các buổi khảo sát và tư vấn tâm lý, có người thân hoặc không để có sự đồng thuận và tuân thủ uống Methadone, tham gia sinh hoạt đầy đủ. Tuy nhiên, trong quá trình uống Methadone một số bệnh nhân vẫn sử dụng thêm “hàng nghiện”, “ hàng đá” . Đây có thể là kết quả không mong muốn của quá trình điều trị, trong đó có khả năng chuyên môn của các bác sĩ, của các chuyên viên tâm lý, của chính sự tuân thủ của bệnh nhân và sự hiểu biết về điều trị nghiện của thân nhân và của toàn xã hội.

Một người đang trong giai đoạn hồi phục trong điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện , chắc chắn hiểu và họ luôn sẵn sàng cho quá trình thách thức phòng ngừa tái nghiện sẽ xảy ra thế nào. Dùng “hàng nghiện” là một trong những thói quen đe dọa cuộc sống nghiêm trọng nhất và ra khỏi tình trạng nghiện là công việc khó khăn nhất mà bệnh nhân nghiện chưa từng làm.

Cơn cai “hàng nghiện” hay cơn vã do thiếu ma túy thường kéo dài và rất đau đớn, và điều trị nghiện thay thế (như MMT) cũng chưa phải là giải pháp đầy đủ. Đây là lý do tại sao nhiều người nghiện phải điều trị giải độc chất gây nghiện một vài lần trước khi hiểu đúng vấn đề điều trị nghiện. Sự nghiện ngập song hành với người bệnh và người nghiện dùng “hàng nghiện” vào những lúc cơ thể đau yếu và những lúc “tinh thần bị cám dỗ” là những thách thức thật sự to lớn.

Hiện nay, ngoài Methadone, còn có khá nhiều loại thuốc điều trị nghiện với cơ chế tác dụng trên thần kinh sọ não khác nhau. Chúng có thể giúp bạn không còn cơn thèm muốn ma túy nhưng không kéo dài, đồng thời với khá nhiều tác dụng phụ. Hết triệu chứng của cơn thiếu ma túy, nhưng sau đó bạn không thể tự mình “chiến đấu” với những thách thức khổng lồ “sau cai” vẫn đang tồn tại. Thực tế, bạn không nên mất nhiều tiền với các loại thuốc điều trị mới này nếu không có chương trình điều trị bài bản “xử lý” được tận gốc các nguyên nhân nghiện của bạn.

Trong quá trình điều trị, tái sử dụng và tái nghiện sẽ xảy ra, nhưng không phải lúc nào cũng xảy ra. Nếu bạn có kế hoạch từng bước tiến hành chống tái nghiện đúng và thái độ tuân thủ đúng, bạn có thể đảm bảo phòng ngừa tái nghiện thành công. Chúng tôi tổng kết và tham khảo một số cách thức hay một số việc làm dưới đây với mong muốn giúp người nghiện và thân nhân hiểu thêm về điều trị nghiện.

1/. Để quá khứ lại phía sau:
Đây là thời gian bạn loại bỏ mối liên hệ với những người nghiện, loại bỏ những nơi chốn hay những gì có liên quan đến quá khứ nghiện của bạn. Trong quá khứ họ là những người không thích bạn, những người từ chối điều trị sự lạm dụng chất gây nghiện hay từ chối điều trị nghiện ma túy ? Nếu như vậy, đây là lúc bạn tách xa họ. Nhưng – nếu họ là những người bạn tốt, hãy cho họ biết bạn sẽ ở bên cạnh họ khi họ bắt đầu ngừng dùng ‘hàng nghiện” và hồi phục.

Tương tự, hãy để ra bên cạnh tất cả những khía cạnh cuộc sống làm bạn nhớ lại quá khứ hoặc đặt bạn vào tình trạng liên quan tới chất gây nghiện. Nếu còn phần nào, hay còn điều gì liên quan như tình trạng nghiện trước kia của bạn thì hãy chấm dứt nó.

Bạn nên nhớ quá khứ sử dụng ma túy có đôi lần giúp bạn bớt đau đớn khoan khoái, thậm chí cực khoái trong vài giây phút như đê mê bay bổng với tiên nữ nơi trần gian, nhưng bây giờ hãy tập trung nhìn lại sức khỏe của bạn hiện tại và tương lai để đoạn tuyệt với “nàng tiên nâu ngày xưa và nàng tiên trắng ngày nay”.

2/. Hãy tìm gặp những người có ảnh hưởng tích cực đối với bạn:
Loại bỏ mối liên hệ với những người đang nghiện, bạn hãy “cố gắng gầy dựng mối quan hệ mới” với những người có thể có ảnh hưởng tích cực đối với bạn. Nhóm hỗ trợ (trong chương trình) có thể là nơi tốt nhất để tìm ra những người có ảnh hưởng tích cực mà bạn đang cần, nhưng bạn có thể tìm ảnh hưởng tích cực ở khắp mọi nơi. Hãy chú ý tới những người cùng làm việc mà bạn có thể đề nghị sinh hoạt chung với họ. Nếu bạn có thành viên gia đình hoặc có bạn không liên quan đến việc dùng “hàng nghiện” của bạn thì bạn có thể xem họ là những người có ảnh hưởng tích cực đặc biệt. Bạn hãy tự đến với họ và cùng với họ lập kế hoạch, cách thức điều trị và phòng ngừa tái nghiện.

Thực tế nhiều bệnh nhân trong chương trình MMT trước kia đã trải qua cai nghiện bắt buộc, kết quả không sử dụng ma túy một thời gian khá dài “ có thể tin tưởng được “, trên đường ra về với gia đình và người thân, gần đến hẻm nhỏ chích hút ngày xưa đã xao xuyến tâm can, đến rồi thì cầm lòng không đặng, bóng hình bạn nghiện cũ hiện về, nhớ lại “vài câu tâm giao tiêu cực” nên dễ dàng hút chích trở lại dù tự nhủ lòng mình “thử một lần thôi” – cũng đủ tái nghiện . Vậy nên, khi từ cơ sở cai nghiện về cần chuẩn bị thật kỹ lưỡng kế hoạch cách ly với “hàng nghiện” và cả những người bạn còn mang nguy cơ rủ rê tiêu cực.

3/. Đến sống môi trường mới:
Không phải tất cả mọi người có thể ngồi vực dậy và di chuyển đến môi trường sống mới, nhưng nếu bạn có ý chí và cơ hội, tại sao bạn không thực hiện cơ hội đó. Đôi khi sự thay đổi cảnh quan môi trường có thể giúp bạn điều trị nghiện hồi phục sau cai nghiện đi theo con đường đúng đắn.

Nơi ở, môi trường mới sẽ có những khác biệt căn bản với những thói quen của bạn ở nơi ở cũ. Chuyển tới địa phương mới là cả một khác biệt to lớn về môi trường. Hãy nghĩ nơi ở mới là nơi hạnh phúc nhất và hãy đến đó, ở đâu cũng có cơ sở giúp người nghiện cai nghiện và phòng ngừa tái nghiện và do vậy đừng bao giờ lo lắng là sẽ bị kết thúc điều trị.

Một vài gia đình bệnh nhân có điều kiện, đưa con em mình về quê “ có người quản và thay đổi môi trường”, nhưng tiếc rằng “người quản” không có khả năng hay không biết tư vấn tâm lâm lý giúp bệnh nhân duy trì động viên, tạo động lực tiếp tục thay đổi hành vi. Kèm theo là những khó khăn không đáng có ở nơi ở mới nếu bệnh nhân muốn tiếp tục tham gia điều trị nghiện. Cuối cùng, không bao lâu sau, không “giữ chân” được cho con em mình.

Khó khăn này nói ra được, tiếc rằng làm khó làm được, nhưng xưa nay ai biết ước mơ, người ấy biết hành động !
Chương trình MMT hiện nay là phương pháp điều trị nghiện được đánh giá là thuận tiện hơn cả trong điều kiện của chúng ta, và có lẽ trong tương lai MMT sẽ phổ biến trên cả nước.

4/. Đừng bao giờ hối thúc thay đổi điều trị:
Hối thúc thay đổi điều trị là công việc của bác sĩ và của bạn, nhưng thông thường trong điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện, sự hối thúc thay đổi là không cần thiết. Methadone và Suboxone được công nhận có hiệu quả cải thiện khi sử dụng lâu dài, nếu bạn cố gắng kết thúc điều trị sớm có thể làm mất ổn định quá trình hồi phục của bạn, và đó chỉ là cảm nghĩ của bạn mà thôi. Đừng bao giờ liều lĩnh cho đến khi bạn phục hồi hoàn toàn.

Câu “dục tốc bất đạt” (câu nói của tiền nhân từ thực tế cuộc sống – hay của các bậc học thật ngày xưa), trong điều trị nghiện ma túy rất có ý nghĩa quyết định thành công – các bậc học giả ngày nay không cần bàn cãi gì thêm !

5/. Hãy sống những gì khác “chất lượng hơn”:
Sau một vài tuần giải độc các chất dạng thuốc phiện (trước khi tham gia cai nghiện bằng Methadone), bạn bị trầm cảm nặng và nản lòng là chuyện bình thường, bạn sẽ thấy trên đời này không có gì làm cho bạn thích thú hoặc làm cho bạn hạnh phúc. Thực tế, vì sự nghiện ngập của bạn đã làm bạn tê liệt với các nguồn thích thú khác. Nhưng tin tốt là những cảm giác thích thú với những gì cảm xúc cũ trước khi nghiện trong cuộc đời sẽ bắt đầu trở lại sau 1 – 2 tuần lễ.

Như vậy, hãy tìm những thích thú nguồn gốc tự nhiên như tập thể dục thể thao, ăn món ăn hợp khẩu vị, làm việc gì đó có tiền thưởng, sáng tạo hay tham gia sinh hoạt nghệ thuật hay làm một việc gì đó có lợi cho cộng đồng dân cư nơi bạn chung sống. Tất cả những hoạt động này có thể mang lại cho bạn một sự thúc đẩy thích thú tự nhiên. Và một khi bạn có thể biết được rằng bạn có thể có những điều thật sự không liên quan tới thích thú dùng ma túy là bạn đang trên đường đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lời khuyên trên như đã rõ ràng, khi bắt đầu vào chương trình điều trị nghiện là bắt đầu một cuộc đời mới, dù bối cảnh gia đình không thay đổi nhiều, nhưng bạn hãy bình tâm quên cái cũ là cái mới, theo thời gian sẽ tự đến.

6/. Hãy làm nhiều việc:
Cách thức giữ tốt nhất không cho ma túy tồn tại trong trí óc bạn là là lấp đầy trí óc bạn bằng các suy nghĩ khác. Hãy làm công việc của mình một cách chăm chỉ. Nếu bạn có đầu óc sáng tạo hay một sở thích nào đó, bạn hãy tập trung vào khả năng đó với với mức độ cao hơn. Hãy đọc sách và xem những bộ phim hay. Vì buồn chán là kẻ thù tệ nhất của quá trình hồi phục trong qua trình điều trị nghiện, bạn hãy thay đổi các hoạt động của bạn vào bất kỳ lúc nào khi các hoạt động ấy trở nên cũ kỹ nhàm chán.

Ai cũng muốn làm được nhiều việc cho bản thân, cho gia đình. Để làm nhiều việc phải có kế hoạch, làm việc từ dễ đến khó, … Do vậy hãy cùng gia đình đăng ký với chính quyền phường xã học một nghề nào đó hợp với học vấn và năng khiếu.

7/. Phải biết những gì kích hoạt dùng ma túy và có chiến lược đối đầu với những kích thích đó:
Qua thời gian, bạn sẽ lưu ý rằng có những việc làm bạn nhớ lại chất ma túy. Một số khởi điểm kích hoạt có thể liên quan trực tiếp tới cuộc sống khi còn nghiện của bạn, trong khi có những việc khởi điểm kích hoạt sử dụng ma túy mới. Bạn hãy học cách nhận thức về các khởi điểm kích hoạt này và hãy thực hiện từng bước chắc chắn là bạn có thể đối đầu với các khởi điểm kích hoạt đó. Nếu bạn không thể nhận thức ra các khởi điểm kích hoạt cũ và mới đó, bạn hãy trao đổi với bác sĩ và chuyên gia tâm lý trị liệu để có chiến lược đối đầu với các khởi điểm kích hoạt mà bạn không thể vượt qua.

Không ai biết rõ những gì làm bạn nghĩ tới ma túy rồi tìm kiếm tiền để mua. Giấu giếm rồi người thân cũng biết, bây giờ bạn hãy nói ra, chân tình rồi mọi người sẽ giúp bạn tránh xa những kích hoạt dùng ma túy đó.

8/. Xử lý tận gốc nguyên nhân nghiện của bạn:
Đây là cơ hội tốt cho tiến trình hồi phục của bạn và nó bao gồm các bước, cách thức và các kỹ thuật điều trị. Nếu không đạt, bạn hãy tìm các bác sĩ và chuyên viên tâm lý giỏi về nghiện ma túy và phòng ngừa tái nghiện, làm việc với họ một cách kỹ lưỡng nhất, trả lời cho được lý do tại sao bạn đến với họ. Có thể bạn có khó khăn về tâm lý và những khó khăn này là nguyên nhân nghiện của bạn, trong đó vấn đề quan trọng là có phương pháp trị liệu trực tiếp những khó khăn tâm lý này trong suốt thời gian điều trị nghiện.

Nguyên nhân gốc rễ thì nhiều, đơn giản như các stress cùng lúc với tính cách yếu đuối và bị bạn xấu rủ rê,… Khi nghiện rồi, tới cơn vã thì đau đớn, thèm muốn quay cuồng, … Bác sĩ và chuyên viên tâm lý đều biết và sẵn sàng giúp bạn uống đủ liều thuốc đồng thời với an ủi, động viên bạn. Hãy nhớ “sông có khúc, người có lúc”, ráng lên sẽ vượt lên tất cả !

9/. Cởi mở với bác sĩ và chuyên viên tâm lý của bạn:
Để bạn có được sự chăm sóc tốt nhất, các bác sĩ và chuyên viên tâm lý cần hiểu biết một cách chính xác những gì xảy ra với bạn trong suốt quá trình điều trị. Đừng che dấu cơn thèm muốn “hàng nghiện”, về các triệu chứng cơ thể hay bất cứ biểu hiện đau yếu nào mà bạn đang phải chịu đựng.

Sẽ là một ý tưởng tốt để tránh làm một việc gì đó mà bạn không muốn bác sĩ và chuyên viên tâm lý của bạn biết. Nhưng nếu bạn có lúc mệt mỏi và thỉnh thoảng sử dụng lại “hàng nghiện”, thì hãy hiểu rằng bác sĩ của bạn sẽ không phán xét xấu về bạn. Hãy để cho bác sĩ biết chính xác việc đó đã xảy ra thế nào và bạn có thể cùng trao đổi với bác sĩ để điều chỉnh liều

Methadone và cách tiếp cận với tình trạng tâm lý của bạn một cách hợp lý.

Không nói ra bác sĩ và chuyên viên tâm lý giỏi cũng biết những khó khăn khi bạn bị nghiện ngập. Nhưng nói ra bác sĩ sẽ tin tưởng bạn nhiều hơn và từ đó giúp bạn cũng nhiều hơn.

10/. Cởi mở với những người bạn yêu thích:
Với những người thân yêu thích, điều cốt yếu là bạn cho họ biết đang nghiện hay dùng “hàng nghiện” nào. Cho họ biết, họ sẽ tin bạn và có trách nhiệm với bạn. Hãy chia sẻ cảm giác và nói thật lòng về bất cứ cơn thèm muốn ma túy sắp tới nào của bạn. Đừng ngại hay xấu hổ khi yêu cầu sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè. Nên nhớ rằng đó là lý do mà họ sống chung với bạn.

Khi không may bị nghiện rồi, dù bạn có khôn lanh, thậm chí che dấu xảo quyệt (với người trong gia đình, rối đến người ngoài – cuối cùng là cả xã hội ) thì trước sau cũng bại lộ, và còn bị mất niềm tin nữa. Do vậy hãy chân tình trong tình yêu thương đùm bọc của người thân để lấy lại niềm tin của họ. Bạn nên nhớ rằng xưa nay ông cha ta xử thế “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại”.

Những người nghiện ma túy nói chung, dù ít hay nhiều tuổi, đều có những khó khăn nhất định trong hoạt động tâm thần. Nghiện ma túy có thể gây ra bệnh tâm thần, hoặc có thể vì bệnh tật ( trong đó chủ yếu là rối loạn tâm thần ) mà nghiện ma túy, … Khi nghiện rồi, cơ thể hết cường tráng, sức khỏe yếu dần dần, có khi lây nhiễm thêm bệnh xấu khác, đồng thời các hoạt động tâm thần cũng “dần dần khác” với mọi người. Người nghiện có xu hướng tự tách biệt và … bị tách biệt ( ? ! ), đôi lúc còn muốn và làm cho cuộc đời ngừng trôi. Nhưng cuộc sống cứ diễn ra và tâm lý bệnh nhân điều trị nghiện trong chương trình MMT vẫn ngày đêm mong được trở lại “phàm phu” như mọi người. Họ biết các thuốc điều trị nhiễm HIV hiện nay rất hiệu quả và vẫy tay chào bác sĩ và chuyên viên tâm lý khi bác sĩ nở “nụ cười – kiến thức” với họ.

Với chúng tôi, bệnh nhân nghiện rất hiểu về các chất gây nghiện – họ cũng rất cần tự hiểu các cách thức theo đuổi điều trị cùng với sự thân thiện của tất cả mọi người.
Bs Phạm Văn Trụ. PG Đ BV TT
Trưởng Nhóm hỗ trợ chuyên môn Chương trình Methadone Tp Hồ Chí Minh.

Tài liệu tham khảo: How to prevent opiate addiction relapse. Anne Watkins. Methadone Maintenance.

Điều trị chống tái nghiện bằng thuốc cho người nghiện nhóm OMH

(OPIUM * HEROIN)

(THUỐC PHIỆN * HÊ-RÔ-IN)

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY NHÓM OMH BẰNG THUỐC NALTREXONE THAY THẾ  ĐIỀU TRỊ NGHIỆN NHÓM OMH BẰNG THUỐC METHADONE
I. KHÁI QUÁT:

1. Naltrexone là chất đối khángnhóm OMH.

2. Naltrexone được sử dụng để loại trừ cảm giác thèm nhớ ma túynhóm OMH.

3. Naltrexone không gây nghiện.

4. Uống thuốc 3 lần / tuần.

5. Ngừng thuốc Naltrexone bệnh nhân không bị hội chứng cai.

I. KHÁI QUÁT:

1.  Methadone chất đồng vận nhóm OMH

2.  Methadone được sử dụng để thay thế khoái cảm của ma túy nhóm OMH.

3.  Methadone là chất gây nghiện.

4.  Uống thuốc mỗi ngày.

5.  Ngừng thuốc Methadone bệnh nhân bị hội chứng cai.

II. DƯỢC LỰC HỌC:

–  Naltrexone vào hệ thần kinh Trung ương bịt lỗ khóa các thụ thể µ, k, Δ, … ở các recepter của não, vô hiệu hóa các tác dụng gây nghiện của các chất nhóm OMH.

II. DƯỢC LỰC HỌC:

–  Methadone vào hệ thần kinh Trung ươngtác động vào các thụ thể µ, k, Δ, … ở các recepter của não: tác dụng giảm đau, êm dịu, giảm hô hấp, giảm ho, gây khoái cảm nhưng yếu hơn nhóm OMH.

III. DƯỢC ĐỘNG HỌC

1. Hấp thu:

+ Hấp thu nhanh qua đường uống

+ Nồng độ phân bổ trong huyết tương cao nhất 1 giờ sau khi uống.

III. DƯỢC ĐỘNG HỌC

1. Hấp thu:

+ Hấp thu nhanh qua đường uống

+ Nồng độ phân bổ trong huyết tương cao nhất  3 – 4 giờ sau khi uống.

2. Phân bổ chuyển hóa:

* Phân bổ trong các mô và huyết tương.

* Chuyển hóa ở ganthành 6 β Naltrexone, chất chuyển hóa có tác dụng đối kháng nhóm OMH.

*Thời gian bán hủycủa Naltrexonekhoảng 4 giờ. Thời gian bán hủy của  6 β Naltrexone khoảng 10 giờ.

2. Phân bổ chuyển hóa:

* Phân bổ trong các mô và huyết tương.

* Chuyển hóa ở ganthông qua men Cytochrome P450, chất  chuyển hóa không có tác dụng.

* Thời gian bán hủycủa Methadone  khoảng 24 giờ.

 

3. Thải trừ:

Chủ yếu thải trừ qua thận, nước tiểu.

3. Thải trừ:

Chủ yếu thải trừ qua thận, nước tiểu.

IV.TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:

1.  Thường gặp: mất ngủ, lo âu, mệt mỏi, đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, đau đầu, đau cơ, chóng mặt, dễ kích thích, tăng tiết mồ hôi, cảm giác khát, chảy nước mũi, ăn không ngon…

2.  Giai đoạn đầu: thường có một số tác dụng không mong muốn nhẹtrung bình. Giảm dần theo thời gian, thường mất sau vài ngày đến vài tuần.

IV.    TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:

1. Thường gặp: rối loạn giấc ngủ, buồn nôn, nôn, táo bón, khô miệng, tăng tiết mồ hôi, giãn mạch, gây ngứa, giữ nước, tăng cân, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chức năng tình dục…

2. Ít gặp các tác dụng không mong muốn.

Tuy nhiên triệu chứng táo bón, rối loạn chức năng tình dục, tăng tiết mồ hôi vẫn có thể tồn tại trong quá trình điều trị.

V. CHỈ ĐỊNH:

Cho người đã cắt cơn và có nguyện vọng được sử dụng Naltrexone để hỗ trợ điều trị chống tái nghiện.

1.   Những người mới nghiện nhóm OMH đã được cắt cơn, giải độc.

2.   Những người đã điều trị cắt cơnđược phục hồi chức năng tâm lý xã hội.

3.   Những người nghiện nhóm OMH đã được điều trị bằng liệu pháp Methadone có nguyện vọng chuyển sang điều trị hỗ trợ chống tái nghiện bằng thuốc Naltrexone (sau khi được cắt cơn từ 7 – 10 ngày).

 

 

V. CHỈ ĐỊNH:

Cho những người nghiện ma túy nhóm OMH có nguyện vọng được điều trị thuốc thay thế Methadone.

1.   Những người nghiện ma túy nhóm OMHmột thời gian quá dài.

2.   Những người đã cai nghiện nhiều lần nhưng thất bại.

3.   Những người nghiện nhóm OMH đã được điều trị bằng liệu pháp Naltrexone nhưngthất bại nhiều lần.

4.   Người nhiễm HIV giai đoạn cuối.

5.   Phụ nữ nghiện nhóm OMH đang mang thai.

6.   Ung thư

7.   Có nhiều tiền án, tiền sự

VI. CHỐNG CHỈ ĐỊNH:

1.     Người bệnh quá mẫn cảm với thuốc, dị ứng với Naltrexone, tá dược của thuốc.

2.     Người bệnh bị tổn thương gan nặng, viêm gan cấp.

3.     Người bệnh đang trong giai đoạncắt cơn giải độc ma túy nhóm OMH hoặc đang sử dụng các loại thuốc có chứa các chất nhóm OMH.

4.     Người bệnh đang bị rối loạn tâm thần nặng.

 

VI.CHỐNG CHỈ ĐỊNH:

1.     Người bệnh quá mẫn cảm với thuốc, dị ứng với Methadone, tá dược của thuốc.

2.     Người bệnh bị tổn thương gan nặng,viêm gan cấp.

3.     Người bệnh đang trong thời gian điều trị bằng thuốc đồng vận, đối vận, hoặc vừa đồng vận, vừa đối vận với ma túy nhóm OMH (LAAM, Naltrexone, Buprenophine….).

4.     Người bệnh đang bị rối loạn tâm thần nặng.

 

VII. THẬN TRỌNG:

Thận trọng sử dụng Naltrexone cho những người đã cai nghiện các chất nhóm OMH gồm:

1.   Người bệnh nghiện đồng thời nhiềuloại ma túy.

2.   Người bệnh bị bệnh tâm thần.

3.   Người bệnh có tổn thương gan, thận.

4.   Người bệnh là phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

5.   Người bệnh nhiễm HIV giai đoạn cuối.

6.   Người bệnh dưới 18 tuổi.

 

VII. THẬN TRỌNG:

Thận trọng sử dụng Methadone  cho những người nghiện nhóm OMH gồm:

1.     Người bệnh nghiện đồng thời nhiều loại ma túy.

2.     Người bệnh bị bệnh tâm thần.

3.     Người bệnh có tổn thương gan, thận.

4.     Người bệnh có tiền sử sử dụng Naltrexone.

5.     Người bệnh nghiện rượu

6.     Người có bệnh mãn tính: hen, phế quản, suy thượng thận, suy giáp, phì đại tuyến tiền liệt, đái tháo đường.

 

VIII. TƯƠNG TÁC THUỐC:

1.Không sử dụng Naltrexone với cácthuốc có chứa các chất nhóm OMHnguy cơ ngộ độc các chất nhóm OMH do mất khả năng dung nạp.

2.Khôngsử dụng Naltrexone vớiThioridagine vì có nguy cơ gây ngủ gà, đờ đẫn, ngộ độc.

 

 

 

 

 

VIII. TƯƠNG TÁC THUỐC:

1. Các thuốc kích thích men cytochrome P 450 của gan làm tăng chuyển hóa Methadone do đó làm giảm nồng độ Methadone trong máu. Các thuốc ức chế cytochrome P450 của gan làm giảm chuyển hóa Methadone, do đólàm tăng nồng độ Methadone trong máu.

2. Một số thuốc kháng HIV(Neviropine, Efavirang) làm tăng chuyển hóa Methadone do dó làm giảm nồng độ Methadone trong máu.

3. Một số thuốc hướng thần nhưBenzodiazépine có thể làm tăng tác dụng củaMethadone do đồng tác dụng.

4. Rượu đồng tác dụng với Methadone trên hệ hô hấp gây nguy cơ suy hô hấp.

 

 

IX. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ:

Phải duy trì ít nhất là 12 tháng.

 

IX. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ:

Thời gian điều trị tùy từng cá nhân không có điểm giới hạn, thậm chí có thể suốt đời.

DÙ PHƯƠNG THỨC ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC ĐỐI KHÁNG NALTREXONE HAY THUỐC THAY THẾ METHADONE THÌ BIỆN PHÁP TƯ VẤN – LIỆU PHÁP TÂM LÝ – LIỆU PHÁP GIÁO DỤC – LIỆU PHÁP XÃ HỘI LÀ RẤT QUAN TRỌNG. NẾU NGƯỜI CAI NGHIỆN CHỈ SỬ DỤNG ĐƠN THUẦN THUỐC NALTREXONE HOẶC METHADONE KẾT QUẢ SẼ HẠN CHẾ.

 

CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

Nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính – khó chữa có đặc tính là dễ tái nghiện. Điều trị nghiện ma túy đòi hỏi phải kiên nhẫn, có một liệu pháp tổng hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, linh hoạt, kịp thời.
Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ
nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

A/ BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY:
1/ TỔN THƯƠNG HỆ THỐNG NÃO BỘ VÀ CÁC VẤN ĐỀ TÂM THẦN CỦA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY: não bộ là nơi tiếp nhận thông tin, phân tích, tổng hợp, ra quyết định và tập trung ý chí. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện biểu hiện qua các rối nhiễu tâm lý thực tổn, trạng thái nhiễm độc, lú lẫn tâm trí, phản ứng loạn tâm thần, trạng thái hưng trầm nhược, giảm khả năng xét đoán, xử lý thông tin, mất ý chí, mất khả năng tự chủ, biểu hiện lo lắng và hội chứng hồi tương dẫn người nghiện luôn nghĩ đến và thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó. Càng sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng cao thì những tổn thương càng nặng nề bấy nhiêu.

2/ RỐI LOẠN VÀ XUỐNG CẤP NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH: Sau một thời gian sử dụng ma túy, người nghiện sẽ hình thành nhiều thói quen xấu – người nghiện không đủ nhận thức cũng như không đủ nghị lực để sống một cách trong sạch, lành mạnh. Người nghiện mất dần kỹ năng tư duy và làm việc, suốt ngày chỉ loay hoay làm thế nào phải có tiền để mua ma túy, do đó người nghiện sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp hậu quả của việc làm đó để đạt mục đích. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội có thể suy sụp đến mức làm sự điều trị, phục hồi cho đối tượng trở thành hết sức khó khăn.

3/ NGHIỆN MA TÚY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG NHẤT THỜI MÀ LÀ MỘT QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN PHỨC TẠP NỘI TÂM cũng như BỐI CẢNH ĐA PHƯƠNG DIỆN của bản thân, gia đình và xã hội. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi dẫn người nghiện đến với ma túy. Do đó nếu không giải quyết được triệt để những vấn đề này, người nghiện sau khi cai nghiện trở về sẽ rất dễ tái nghiện.

4/ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG MA TÚY: Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy. Do người nghiện ma túy, nếu thiếu ma túy thì chỉ sau 8 – 12 giờ sẽ phát sinh hội chứng cai với tất cả sự đau nhức, hành hạ thân xác và tinh thần nên bằng mọi giá người nghiện phải kiếm đủ tiền để mua ma túy bất chấp hậu quả việc làm của mình, dễ dẫn đến hành vi phạm pháp của đối tượng.
Bốn vấn đề chính nêu trên tác động qua lại lẫn nhau – chúng vừa là nguyên nhâncũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nếu chúng ta giải quyết không toàn diện và triệt để sẽ dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái nghiện.

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY

B/ ĐỂ GIẢI QUYẾT 04 VẤN ĐỀ NÊU TRÊN, TT Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đã áp dụng một CHƯƠNG TRÌNH CAI NGHIỆN ĐA DẠNG, TỔNG HỢP, XUYÊN SUỐT, ĐỒNG BỘ, KHÉP KÍN, LINH HOẠT, KỊP THỜI TÙY THUỘC VÀO TỪNG ĐỐI TƯỢNG bao gồm:
1/ CẮT CƠN, GIẢI ĐỘC, NÂNG CAO SỨC KHỎE. Cắt cơn nghiện không phải là điều trị thật sự mà chỉ để tạo tiền đề cho một quá trình cai nghiện lâu dài liên tục.
Điều trị
kịp thời các rối loạn và các bệnh Tâm thần kinh – Lao – HIV/AIDScác bệnh cơ hội cho người nghiện ma túy.

2/ GIÁO DỤC TRỊ LIỆU nhằm giáo dục – gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho người nghiện ma túy. Nội dung công tác giáo dục nhằm hai muc đích:
2.1 Nâng cao nhận thức cho học viên: thông qua dạy văn hóa, học tập các chuyên đề bao gồm: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc phòng + Giáo dục truyền thống…

2.2 Trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống thông qua các chương trình giáo dục vềTư duy tích cực – Tự chủ quản lý bản thân – Nhận thức các giá trị sống(chương trình được sự hỗ trợ của tổ chức UNESCO và UNICEF của Liên hiệp quốc) –Tâm năng dưỡng sinh: thiền định, tập dưỡng sinh – Sinh hoạt trị liệu – Giải trí trị liệu – Hoạt động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Sản xuất trị liệu.
Thực hiện Cộng đồng trị liệu theo phương pháp Daytop (Mỹ)Môi trường Trị liệu (liệu pháp đặc thù của Trung tâm Thanh Đa) với những tiêu chí cụ thể
Công tác giáo dục là vấn đề cơ bản nhất trong cai nghiện phục hồi nhằm gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho người nghiện ma túy. Công tác giáo dục này phải áp dụng cho đối tượng đang được điều trị chống tái nghiện nhóm Opiats bằng thuốc NALTREXONE hay bằng thuốc METHADONE. Nếu không thực hiện tốt công tác này thì chất lượng cai nghiện sẽ thấp và công tác cai nghiện sẽ rất khó thành công.

3/ TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU cá nhân – nhóm – gia đình – Giải quyết khủng hoảng ca… nhằm thấu hiểu những diễn biến phức tap của nội tâm cũng như những bối cảnh tiêu cực liên quan đến cá nhân, gia đìnhxã hội.
Từ những cơ sở trên, cán bộ điều trị mới có thể giúp người nghiện nhận thức được bản thân, sửa đổi lỗi lầm, xóa bỏ sự cô độc, mặc cảm, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau, sự cởi mở, vui vẻ với mọi người, định hướng được cuộc sống và hành độngcho tương lai.

4/ ĐỂ HỖ TRỢ HỌC VIÊN KHI TRỞ VỀ CỘNG ĐỒNG KHÔNG TÁI SỬ DỤNG MA TÚY, TRUNG TÂM đã TRIỂN KHAI KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc NALTREXONE (là một chất làm MẤT CẢM GIÁC THÈM NHỚTÌM KIẾM MA TÚY) KẾT HỢP với KỸ NĂNG TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU – GIÁO DỤC TRỊ LIỆU và các LIỆU PHÁP XÃ HỘI. Kết quả khảo sát cho thấy, sau hơn 4 năm,Khoa đã điều trị cho hơn 1000 học viên, HƠN 72% SỐ HỌC VIÊN CHƯA TÁI NGHIỆN, TRÊN 50% HỌC VIÊN NGOẠI TRÚ ĐÃ CÓ VIỆC LÀM ỔN ĐỊNH.
Trong phương pháp này, việc UỐNG THUỐC NALTREXONEBIỆN PHÁP HỖ TRỢ. Nếu KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU – GIÁO DỤC TRỊ LIỆU – CÁC LIỆU PHÁP XÃ HỘI THÌ KẾT QUẢ CHỐNG TÁI NGHIỆN SẼ RẤT HẠN CHẾ.