BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI  GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY

1.Tổn thương hệ thống não bộ  và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

2.Rối loạn và xuống cấp nhận thức – hành vi – nhân cách.

3.Chấn thương tâm lý: đây không phải là một hành động nhất thời mà là một quá trình diễn biến đầy mâu thuẫn và phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện của người nghiện ma túy đối với bản thângia đình và xã hội.

4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện, trừ một số ít trường hợp nhẹ.

Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn nhận thức hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

 

ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRÊN Y VĂN THẾ GIỚI ĐÃ CHỈ RÕ:

1/ Không có mô hình cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện mà chỉ có những nguyên tắc căn bản về điều trị – giáo dục – quản lý đối với người nghiện. Mô hình điều trị tốt cho người này, chưa hẳn đã phù hợp với người khác, mà thậm chí kết quả còn ngược lại.

2/ Trừ một số ít trường hợp nghiện nhẹđiều trị nghiện ma túy phải sử dụng một biện pháp tổng hợp, linh hoạt và kịp thờinhằm mục đích gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải tỏa các chấn thương tâm lý và để người cai nghiện không còn thèm nhớ ma túy phải sử dụng các liệu pháp sau:

·    Tư vấn – Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp giáo dục – Liệu pháp xã hội – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Hoạt động trị liệu – Sinh hoạt cá nhân, nhóm, gia đình,…

·    Đối với nhóm người nghiện Á phiện – Morphine -Héroine (OMH) cần phải uống thuốcNALTREXONE để đối tượng không còn thèm nhớ ma túy. Tuy nhiên, nếu chỉ uống thuốc Naltexone đơn thuần mà không sử dụng các liệu pháp trênngười cai nghiện sẽ không được phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải quyết các chấn thương tâm lý nên dễ bỏ chương trình điều trị và dễ tái sử dụng ma túyKết quả điều trị do đó sẽ rất hạn chế.

3/ Không có một liệu pháp đơn thuần nào (uống thuốc, châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật thùy não,…) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy.

4/ Chương trình điều trị phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lý của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy giải quyết– nhưng phải phối hợp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực mình với lĩnh vực chuyên môn của người khác.

5/ Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

TÁC HẠI CỦA MA TÚY TỔNG HỢP DẠNG KÍCH THÍCH (MA TÚY ĐÁ – THUỐC LẮC – AMPHETAMIN …)

(Amphetamine – Type Stimulants) (ATS)

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

  I. DỊCH TỄ HỌC:

Sử dụng Amphetamin có thể xảy ra ở mọi tầng lớp xã hội nhưng nhiều nhất ở nhóm “nghề nghiệp áo trắng”: sinh viên học thi, lái xe tải đường dài, vận động viên thể thao trong thi đấu, các doanh nghiệp trước các công việc quan trọng…

Lúc đầu, sử dụng Apx để tăng sự tỉnh táo, tăng năng xuất công việc, chống mệt mỏi… rồi nhanh chóng trở thành lạm dụng và nghiện ATS.

·        Sử dụng ATS trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.

+       Quân đội Mỹ: Phi công được sử dụng để giúp họ tỉnh táo.

+      Quân đội Đức: Sử dụng thuốc ATS sản xuất trong nước với tên biệt dược là Pervitin. Hitle được bác sĩ riêng, Theodore Morell tiêm hàng ngày.

·       Ở Mỹ

+      Binh lính Mỹ được khuyến khích dùng Amphetamin cả trong chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên.

+      Hiện nay ATS vẫn được phép sử dụng trong quân đội Mỹ.

+      57% phi công Mỹ trở về sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 họ nói thường xuyên sử dụng ATS.

Năm 1991: 7% dân số dùng ATS ít nhất 1 lần/ năm và 1% nghiện. Nhóm tuổi từ 18 – 25 có tỷ lệ cao nhất (7% có sử dụng ít nhất 1 lần), nhóm 12 – 17 có tỷ lệ nghiện đáng báo động (3% đã sử dụng ít nhất 1 lần).

Năm 1992: 13,9% sinh viên đại học và cao đẳng sử dụng ít nhất 1 lần và năm 1994: tăng đến 15,7%.

·    Ở Nhật:

Năm 1948 có 50% người tuổi từ 18 – 25 sử dụng ATS ít nhất 1 lần (sau đệ nhị thế chiến). Hiện nay ATS vẫn là chất ma túy chủ yếu…

·    Các nơi khác:

Số nguời đã sử dụng ATS ở Thụy Sĩ là 8%, Đức 2,8%, Tiệp Khắc 1,6%, Brazil là 5%. Tại Úc 25% nam và 12% nữ tuổi từ 20- 24 đã thử dùng ATS.

·   Ở Việt Nam:

Xuất hiện từ cuối những năm 90 của Thế kỷ trước, hiện ATS đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố.

ATS được dùng phổ biến ở Việt NamMethamphetamineEctasy với các tên lóng như: đá, thuốc lắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba..

Do giá thành cao, ATS được dùng phổ biến trong nhóm người nghiện ma túy là những thanh niên con nhà khá giả ở những thành phố lớn.

*   Thống kê tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có 9 bệnh nhân sử dụng nhóm ATS nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần (93 người). Riêng 3 tháng đầu năm 2012 nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý đã là 15 người.

TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY
THANH ĐA
 (TỪ 2005 ĐẾN 22-/06/2014) thống kê cho thấy số học viên sử dụng nhóm ATS như sau:​

NĂM SỐ HỌC VIÊN SỬ DỤNG NHÓM AMP ty-le-su-dung-nhom-amp.PNG - 6.11 kb SỐ HỌC VIÊN PHẢI  ĐIỀU TRỊ HÓA DƯỢC (THEO ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH VIỆN TÂM THẦN) ty-le-deu-tri-hoa-duoc.PNG - 6.29 kb SỐ PHẢI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TẦM THẦN
2005 04 0,56% 00 00% 0
2006 05 0,90% 00 00% 0
2007 22 2,10% 00 00% 0
2008 43 2,93% 02 4,65% 0
2009 69 4,75% 07 10,14% 0
2010 140 9,70% 29 20,07% 3
2011 255 16,95% 55 21,57% 3
2012 361 22,46% 67 18,56% 5
2013 358 24,49% 121 33,80% 6
NĂM 2014 436 29,9%% 141 32,34% 5
NĂM 2015

 (01/01/2015 ĐẾN 30/09/2015)

395 37,87% 114 28,86% 5

Cho đến nay số học viên nghiện ma túy nhóm ATS đã được điều trị tại Trung tâm là hơn 1.952 trường hợp. Riêng năm 2013 và 2014, tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy nhóm ATS phải điều trị bằng hóa dược chiếm 33,80 %, gấp gần 2 lần số học viên được điều trị bằng hóa dược năm 2012. Kết quả trên cho thấy:

– VẤN ĐỀ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS CẦN BÁO ĐỘNG: TÁC HẠI CỦA NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS LÀ KHÔNG LƯỜNG ĐƯỢC, nhất là khi người nghiện ma túy thuộc nhóm tài xế lái xe tải nặng đường dài, số người nghiện có tiền án tiền sự, số người từ các trung tâm cai nghiện trở về tái nghiện, …

–  Số người sử dụng ma túy ATS tăng nhanh đều mỗi năm. Hiện nay tại Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa số học viên sử dụng ATS chiếm hơn 1/3 so với tổng số học viên cai nghiện ma túy.

–  Số học viên có vấn đề tâm thần buộc điều trị hóa dược gần 1/3 trên tổng số học viên sử dụng ma túy nhóm ATS. Số học viên nghiện ATS còn lại hầu hết đều có vấn đề tâm thần.

II.   CƠ CHẾ TÁC DỤNG:

Tất cả các loại ATS đều hấp thu nhanh qua đường uống và tác động lên hệ thần kinh trung ương xảy ra nhanh trong vòng 1 giờ sau khi uống. Các Amphetamin cổ điển cũng được sử dụng đường tiêm tĩnh mạch do nó có hiệu quả ngay lập tức. Ngoài ra Amphetamin mới cũng như loại không được kê đơn cũng được sử dụng hít qua đường mũi. Sự dung nạp cũng được xảy ra với 2 loại Amphetamin nói trên, mặc dù người sử dụng Amphetamin thường vượt qua sự dung nạp bằng cách sử dụng nhiều loại ma túy hơn. Amphetamin gây nghiện yếu hơn cocaine.

Các loại Amphetamin cổ điển (dextroamphetamine, methamphetamine (hàng đá) và methylphenidate) có hiệu quả ban đầu của nó bằng cách gây tăng phóng thích cathecoliamine, đặc biệt dopamine ở tận cùng tiền synapse. Các hiệu quả đặc biệt mạnh với các nơ ron dopaminergic ở vùng nhân tegment, nhân bụng của vỏ não và vùng hồi viền. Đường này đã được xác định là đường củng cố tích cực và sự kích hoạt nó hiển nhiên là cơ chế gây nghiện mạnh đối với các Amphetamine.

– Các loại amphetamine mới ( MDMA, MDEA. MNDA, và DOM) gây ra sự phóng thích Cathecholamine (dopamine và norepinephrine) và serotoninSerotonin là chất vận chuyển thần kinh được chứng tỏ như là đường hóa học thần kinh chủ yếu liên quan đến tác động gây ảo giác. Tuy nhiên hiệu quả lâm sàng của các Amphetamine mới cũng gây dung nạp chéo với các Amphetamine cổ điển và gây ảo giác. Dược lý của MDMA (thuốc lắc) được biết rất rõ trong nhóm này, nó có ái lực với các nơ ron serotoninergic qua việc chịu trách nhiệm vận chuyển serotonin, qua việc thu hồi serotonin. Khi vào tế bào thần kinh, MDMA gây ra một sự phóng thích nhanh serotonin và ức chế sản xuất ra các enzyme phân hủy serotonin.

–  MDMA còn có tên gọi khác là Ectasy, thuốc lắc, XTC, E, Eva & Adam …

III.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

ATS gây ra các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Khô miệng, khô môi

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Mất trí nhớ

+ Giảm khả năng xét đoán, tập trung

+ Giảm khả năng lao động xã hội.

+ Buồn nôn, nôn

+ Mất ngủ

+ Sút cân

+ Giảm ăn, biếng ăn

+ Hỏng răng, nuốt khó

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Trầm cảm, lo lắng

+ Căng thẳng, giận dữ, bồn chồn.

+ Hoang tưởng, ảo thanh, phản ứng hoảng sợ

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

+ Đột quỵ, nhũn não, đau đầu

+  Có ý tưởng tự sát.

Tóm lại, triệu chứng lâm sàng thể hiện qua hai mặt cơ thể và tâm thần như sau:

1.  VỀ CƠ THỂ:

+      Tác động chủ yếu trên hệ thần kinh – hệ tim mạch – hệ tiêu hóa.

+       Các biểu hiện lâm sàng đáng chú ý bao gồm: nhồi máu cơ timtăng huyết áp kịch phátbệnh lý mạch máu não và viêm đại tràng thiếu máu. Những người lạm dụng ATS thường có hành vi tình dục không an toàn.

+       Các tác dụng không mong muốn và ít nguy hiểm là: nóng bừng mặt, xanh xao, tím tái thiếu ô xy, sốt, đau đầu, nhịp tim nhanh, buồn nôn, nôn, mất men răng, thở hụt hơi, run, loạng choạng.

+       Ở phụ nữ có thai thường thai nhi chậm lớn, nhẹ cânvòng đầu nhỏsinh non.

2.  VỀ TÂM THẦN:

Người sử dụng ATS có các biểu hiện sau: bồn chồn, loạn khí sắc, mất ngủ, cáu kỉnh, hoảng sợ, lú lẫn, trở nên thù địch, và các triệu chứng của rối loạn lo âu. Ý tưởng liên hệhoang tưởng paranoid và các ảo giác cũng có thể xảy ra.

·    Đối với người sử dụng các loại Amphetamin mới, còn có các triệu chứng sau:

–       Triệu chứng ngắn hạnNhịp tim nhanh, run, khô miệng, dị cảm, co cơ, đổ mồ hôi, lơ mơ, mệt mỏi, mất ngủ, choáng váng, ảo thị, nhìn không rõ, hay giật mình, khó tập trung, có cơn nóng lạnh, đánh trống ngực, nhạy cảm với lạnh, dễ cáu kỉnh, mất men răng, nhìn thấy đồ vật lấp lánh, cảm giác thân thiện, gần gũi, quan hệ với người khác.

–       Triệu chứng kéo dài: ngủ lơ mơ, uể oải, đau cơ, mệt mỏi, trầm cảm, căng cơ hàm (nghiến răng), đau đầu, khô miệng, lo âu, buồn rầu, sợ hãi, dễ cáu kỉnh, khó tập trung chú ý, cảm giác thân thiện với người khác.

Ngoài ra hầu hết các chất ATS làm tăng nhu cầu tình dục nên người sử dụng ATS quan hệ nam nữ bừa bãi, hay chích chung kim do đó rất dễ lây nhiễm các bệnh HIV, viêm gan siêu vi, đồng thời do bị kích động người sử dụng ATS hay phóng xe, lạng lách gây tai nạn giao thông cho chính mình và người khác.

IV. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC AMPHETAMIN.

A. Thường xuyên dùng APT hoặc giống APT.

B. Có các thay đổi về tâm lý và hành vi không thích hợprõ rệt trên lâm sàng:

Khoái cảm, cùn mòn cảm xúc.

Mất ngủ, lo âu, căng thẳng, giận dữ

Các hành vi có tính định hình

Giảm khả năng xét đoán, khả năng lao động xã hội.

Các triệu chứng này xuất hiện trong khi sử dụng hay một thời gian ngắn sau khi sử dụng APT.

C. Có 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Buồn nôn, nôn

+ Sút cân

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

D. Các triệu chứng này không do một bệnh cơ thể nào khác gây ra và không ghép được vào một rối loạn tâm thần nào khác.

V. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI LOẠN THẦN DO AMPHETAMIN:

(Amphetamine Inducd Psychosis)

+ Biểu hiện cốt lõi là h/c paranoid với các đặc trưng:

– Nhiều ảo thị (sinh động, nhiều màu sắc, cấp diễn và ảo thanh.

– Các ảo giác chiếm ưu thế trong bệnh cảnh.

– Các hoang tưởng thường gặp là: hoang tưởng liên hệ, bị truy hại, đôi khi có cả hoang tưởng bị kiểm tra, tư duy bị cài đặt, bị bộc lộ.

+ Tăng hoạt độnghoặc rối loạn hành vi theo ảo giác chi phối

+ Tăng tình dục(hypersexuality)

+ Bối rối lẫn lộn, đôi khi tư duy rời rạc không liên quan.

· Triệu chứng thường xuất hiện cấp diễn ở những người nghiện APT lâu ngày hoặc kèm nhiễm độc rượu, stress.

· Phân biệt với tâm thần phân liệt: triệu chứng giảm dần vài ngày khi được điều trị hoặc xét nghiệm nước tiểu đã tìm thấy chất ma túy.

VI. HỘI CHỨNG CAI AMPHETAMIN:

· Biểu hiện hội chứng cai có thể xuất hiện từ vài giờ đến vài ngày sau khi ngưng sử dụng APT.

· Các triệu chứng đạt cường độ tối đa trong vòng 2 – 4 ngày sauhết sau khoảng một tuần.

· Triệu chứng nặng nề nhất là trầm cảm. Ở người nghiện dài ngày, sử dụng ma túy liều cao thì trầm cảm thường rất nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát.

VII. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG CAI (DSM – IV):

A- Hội chứng xảy ra do ngừng hay giảm sử dụng APT (hoặc giống APT) ở người nghiện (đã dùng liều cao và kéo dài…) APT.

B- Có rối loạn khí sắc và có 2 hoặc nhiều hơn các rối loạn sau đây (xuất hiện sau khi ngừng sử dụng APT một vài giờ hay một vài ngày).

Mệt mỏi

– Có những giấc mơ đáng sợ.

Mất ngủhay ngủ nhiều.

Tăngcảm giác ngon miệng.

Kích thíchhoặc ức chế tâm thần vận động.

C – Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã hội, lao động.

D – Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn thần khác gây ra.

Nguồn : cainghienmatuythanhda

Khám phá mới về nguyên nhân gây nghiện ma túy

Chứng nghiện được xác định là sự phụ thuộc các chất hóa học gây ra do một dạng phản ứng của cơ thể với chất gây nghiện.

Tuy nhiên Johann Hari, tác giả của cuốn sách nói về cuộc chiến cai nghiện nổi tiếng “Chasing The Scream: The First and Last Days of the War on Drugs” cho rằng hoàn cảnh sống của một người là yếu tố quan trọng đưa người đó vào con đường nghiện ngập.

Ông nhớ lại khi xem một đoạn phim quảng cáo phòng chAdd Newống ma túy vào những năm 80 nói về cuộc thí nghiệm trong đó con chuột được sống trong một chiếc lồng với hai cốc nước, một cốc chứa nước tinh khiết và cốc còn lại được cho thêm heroin hoặc cocaine. Người ta thấy con chuột thí nghiệm bắt đầu nghiện cốc nước thứ hai và uống cho đến khi nó chết.

Bruce Alexander, giáo sư Tâm lý ở Vancouver không nghĩ con chuột chỉ uống một chiếc cốc duy nhất vì nó muốn thế. Ông cho rằng việc con chuột chỉ uống chiếc cốc có pha với chất gây nghiện chỉ đơn giản vì nó ở trong một chiếc lồng nhỏ và không có gì khác để làm.

Vị giáo sư này sau đó quyết định thực hiện một cuộc nghiên cứu tương tự nhưng lần này ông thay đổi môi trường sống của con chuột thí nghiệm. Ông bỏ con chuột vào một chiếc lồng lớn hơn và thêm vào đó những đồ chơi, đường hầm, thực phẩm và quan trọng nhất là một con chuột khác để chơi cùng.

Ông cũng cho vào lồng 2 cốc nước giống như thí nghiệm đã thực hiện trước đó. Cả 2 con chuột vẫn thử cốc nước có chứa chất gây nghiện thế nhưng không có ai trong chúng trở nên nghiện và bị chết.

Hari tác giả cuốn sách ở phần đầu cho rằng chính môi trường sống “hạnh phúc” đã giúp 2 con chuột này quên đi việc phụ thuộc vào cốc nước gây nghiện cho dù đã uống thử nó. Hari bước đầu giải thích điều này là một đặc tính độc đáo của những con chuột.

Làm rõ thêm giả thiết này, ông cho biết đã thí nghiệm và cô lập 2 con chuột suốt 57 ngày liền trong một chiếc lồng “hạnh phúc”. Người ta đã nghĩ rằng, chúng sẽ nghiện cốc nước có chứa ma túy kia nhưng chỉ sau khi giảm liều lượng cả 2 con chuột dễ dàng thoát khỏi hoàn toàn sự phụ thuộc đó.

Đây là lý do tại sao Hari tin rằng chữa chứng nghiện thì cần đưa người nghiện sống trong một môi trường xã hội tích cực.

Bồ Đào Nha chính là minh chứng điển hình cho nhận định này. Khoảng 15 năm trước, chỉ có 1% dân số nước này nghiện heroin.

Thay vì bắt giam và bỏ tù những người nghiện, Bồ Đào Nha đầu tư vào xây dựng nhà ở, công ăn việc làm, phòng khám cho người nghiện ma túy. Và những người cai nghiện thành công đã được dần dần hòa nhập với xã hội như một cơ hội đổi đời mới. Kết quả là giảm 50% số lượng người tiêm chích ma túy trong cả nước Bồ Đào Nha.

Tác giả Hari kêu gọi thế giới làm theo gương của Bồ Đào Nha, hãy cho những người nghiện ma túy có cơ hội làm lại và hỗ trợ họ. Đối với những người nghiện, hành động “chào đón” họ của bạn chẳng khác nào chiếc lồng “hạnh phúc” giúp họ đổi đời.

Thu Hà

Theo Elite Daily

Hậu quả tàn khốc của cần sa tổng hợp

Sử dụng cần sa tổng hợp dẫn đến hậu quả xấu là xuất hiện các triệu chứng loạn thần, ngay cả khi xét nghiệm nước tiểu hết dương tính với cần sa.

Cần sa tổng hợp – sát nhân thầm lặng

Cần sa tổng hợp (synthetic canabinoid/ synthetic marijuana) là một chất bị lạm dụng tương đối mới và vẫn còn ít thông tin về tác hại của chúng trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam.

Mặc dù trên bao bì có cảnh báo “not for human consumption” (không sử dụng cho người), tuy nhiên vẫn có nhiều người bất chấp khuyến cáo thản nhiên sử dụng.

Thậm chí có tiệm bánh còn dùng cần sa trộn vào bánh mỳ. Đầu năm 2015, 40 người nhập viện sau khi ăn bánh mỳ ở tiệm Cholula’s Bakery tại Santa Ana, Mỹ. Kết quả xét nghiệm của cảnh sát cho thấy, cần sa tổng hợp có trong bánh mì.

Ramirez – một khách hàng 26 tuổi cho biết anh đã đặt mua một loại bánh đặc biệt ở cửa hàng này. Sau khi ăn bánh tẩm cần sa, anh trở nên chóng mặt, mất kiểm soát, tim đập nhanh…

Tháng 1/2015, hai người đàn ông ở bang Queensland, Australia đã tử vong sau khi sử dụng loại cần sa tổng hợp với nhãn hiệu Full Moon. Cảnh sát Queensland cho biết, một trong số hai nạn nhân đã mua Full Moon trong cửa hàng đồ chơi tình dục.

Năm 2013, cần sa tổng hợp được cho là nguyên nhân khiến 221 người bị bệnh ở Colorado, sự kiện xảy ra trong thời gian bùng phát kéo dài một tháng. Các chuyên gia đã thực hiện nghiên cứu 127/221 trường hợp đã đi đến kết luận: 64% bị áp huyết cao, 32% nói họ bị khích động, 25% cho biết bị rối loạn tinh thần

Trước đó, tháng 3/2011, Cục quản lý Dược phẩm Hoa Kỳ (US Drug Enforcement Administration – DEA) lập danh sách 5 loại cần sa tổng hợp trong danh sách kiểm soát cấp 1 gồm: JWH-018, JWH-073, JWH-200, CP-47 và canabicyclohexanol.

Là hóa chất chỉ dùng thí nghiệm trên cơ thể động vật

Trong bài phỏng vấn do tờ Huffing Post thực hiện, đại diện của DEA cho rằng, cần sa tổng hợp xuất phát từ các phòng thí nghiệm từ những năm 1978 ở Mỹ nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, từ năm 2009 cần sa tổng hợp bắt đầu bị lạm dụng ở Mỹ, đặc biệt tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng rất lớn. Nhằm qua mặt cơ quan chức năng, cần sa tổng hợp thường ngụy trang dưới mác gia vị, hương liệu, trà thảo mộc… trong các bao bì màu mè, dưới nhiều tên gọi khác nhau như: Kronic, Magic Dragon, Spice, Black Mamba, K2, Fake Marijuana, Sexy Monkey, Blue Night, Full Moon…

Một số loại cần sa tổng hợp như K2/Spice có thành phần gồm hỗn hợp các loại thảo mộc khô, gia vị và hoa phun với các hợp chất tổng hợp hoặc hóa học tương tự như THC (tetrahydrocannabinol) được tìm thấy trong cần sa và được bán như loại hương liệu (để hít).

Bà Barbaba Carrenno, người phát ngôn của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Adminnistration – FDA) cho rằng có hơn 40 loại cần sa tổng hợp, có nguồn gốc từ Trung Đông, Ấn Độ, đặc biệt phần lớn đến từ các công ty hóa chất ở Trung Quốc.

Dưới một góc nhìn khác, Tiến sĩ Richard Kevin, trường Đại học Sydney – Australia, người đã từng làm nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của cần sa tổng hợp lên cơ thể chuột nhận xét: Không quá khó để điều chế ra cần sa tổng hợp, các sản phẩm này được sử dụng vào mục đích nghiên cứu ở các phòng thí nghiệm.

Ban đầu, các hợp chất này được tạo ra nhằm mục đích nghiên cứu tác động của cần sa đến hệ thần kinh ở động vật, chứ không bao giờ có mục đích dành cho người sử dụng. Đồng thời Tiến sĩ Richard cũng khẳng định: Hiện nay, không có một tiêu chuẩn, quy trình, hay kiểm tra chất lượng của các sản phẩm cần sa tổng hợp.

Chính quá trình tổng hợp, điều chế rất dễ dàng, nên tội phạm ma túy thường “tung” các sản phẩm này ra thị trường với giá thành rẻ hơn nhiều so với các loại ma túy truyền thống. Hiện tại, người tiêu dùng không giới hạn độ tuổi có thể dễ dàng mua cần sa tổng hợp trên mạng hoặc các cửa hàng bán hương liệu, thảo dược…

Cơn lốc ngầm trong giới trẻ Việt

Mặc dù vào Việt Nam chưa lâu nhưng cần sa tổng hợp hiện đang “xâm thực” với tốc độ cao trong một bộ phận thanh thiếu niên.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, để phân biệt với cần tự nhiên, dân chơi thường gọi nôm na cần sa tổng hợp là “cần tổng”. Đặc biệt, với tâm lý tò mò, nhiều bạn trẻ ban đầu chỉ hút cần tự nhiên sau đó đã thử chuyển sang cần tổng.

Để tìm hiểu về loại ma túy đang rất phổ biến ở Việt Nam, chúng tôi đã làm quen với một số dân chơi cần. Khuôn mặt non choẹt nhưng Đ.Anh (17 tuổi, Đống Đa) đã có thâm niên chơi cần 2 năm, cậu kể: “ban đầu em hút cần ta (cần sa tự nhiên) thôi, rồi thằng bạn giới thiệu cái món “cần tổng” mới lạ này. Tính em vốn thế, có gì lạ “hàng mới” là phải thử cho bằng được.

Em ưa sáng tạo, một lần em thử trộn “cần tổng” với bánh kem, cứ nghĩ không phê. Nhưng ăn xong thấy ngứa mồm, lưng nóng rát, co giật liên tục, van lạy cào cấu đủ thứ nhưng không ăn thua… lần đó không nhờ mẹ đưa cấp cứu coi như đứt”.

Qua Đ.Anh, tôi có dịp trò chyện với Tiến, bạn cùng lớp với Đ.Anh, khi đề cập đến “cần tổng”, Tiến hoảng hốt: “Đau lắm chị ơi, em chơi mới được một hơi thôi, xong cứ nhảy từng bậc một trên cầu thang xuống vì tưởng biển! Loại này toàn hóa chất, hít vào chết là đúng”.

Khi được hỏi về nguồn gốc của các loại “cần tổng” này, Đ.Anh chia sẻ: Mỗi ngày có hàng chục mẩu tin quảng cáo kèm hình ảnh các loại cần tổng trên facebook, chỉ cần chị inbox bao nhiêu chả có. Mặc khác, các chuyên gia cho rằng cần tổng hợp nguy hiểm hơn cần sa tự nhiên rất nhiều lần.

Theo BS CK II Phạm Văn Trụ, Phó Giám đốc Bệnh viện Tâm Thần TP. HCM, cần sa tổng hợp chứa thụ thể đồng vận CP-47497 và JWH-018 có ái lực với thụ thể cannabinoid CB1 và CB2 cao hơn so với ái lực của thụ thể tetrahydrocannabiol (THC) có trong cần sa thiên nhiên. Chính khả năng gắn thụ thể cao này dẫn đến hậu quả xấu là xuất hiện các triệu chứng loạn thần, ngay cả khi xét nghiệm nước tiểu hết dương tính với cần sa.

Bình Nguyên

Theo news.com.au, usatoday, huffingtonpost)