TỪ “PHÊ” THÀNH ĐIÊN

tuoitre.vn

TỪ "PHÊ" THÀNH ĐIÊN

TT – Ma túy tổng hợp đang đẩy không ít bạn trẻ vào bệnh viện tâm thần vì rối loạn tâm thần tức thời ngay sau khi sử dụng. Nguyễn Khắc H. (26 tuổi, Hà Nội) đã điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội gần hai tháng.

Khoảng một năm trước, H. được đưa vào đây trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Từ  "phê" thành điên Phóng to
Bác sĩ thăm khám cho Nguyễn Khắc H.- người đã hai lần nhập viện tâm thần do dùng ma túy tổng hợp – Ảnh: Ngọc Hà

Vì sao?

Sau khi hít ma túy đá, H. chìm trong ảo giác kỳ lạ, tưởng mình là chim nên cứ thế bật tung cửa bancông trên tầng ba rồi… nhảy xuống đất. May mắn, kết quả cú nhảy bất thường chỉ là hai gót chân bị gãy giập. Nhưng ra viện, cai được vài tháng H. lại “phập” vào đường cũ. Bạn bè dùng ma túy để thức liên tục vài ngày không ngủ, “chơi tới bến” đủ thứ như cờ bạc, nhảy nhót thâu đêm, còn H. chỉ dùng cùng vợ. “Nó đem lại cho cả hai vợ chồng hưng phấn đặc biệt”, H. không giấu giếm. Theo H., nhiều cặp vợ chồng trẻ, mới cưới như H. rất ưa dùng ma túy tổng hợp để phục vụ chuyện “riêng tư”. “Nhưng chỉ được một thời gian” – H. bộc bạch.

Không đơn giản dùng ma túy để khoe độ chơi như nhiều người nghĩ, nhiều bạn trẻ như H. đang lặng lẽ chơi thứ hàng chết người này để thỏa mãn “bản lĩnh giới tính”. H. lý giải đó là lý do cậu không phải thành phần hư hỏng, đã tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm tử tế, còn vợ cũng là trưởng phòng một công ty du lịch, cả hai đã có con, có nhà riêng mà vẫn tìm đến ma túy đá. Theo H., dù chơi rất hạn chế, nhưng hơn một năm hai vợ chồng cũng chi hết 400-500 triệu đồng để “đập đá”.

Thống kê tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có chín bệnh nhân nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần, lên đến 93 người. Riêng ba tháng đầu năm 2012, nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý này đã là 15 người. Bệnh nhân gia tăng, phác đồ điều trị chưa có, đặc điểm bệnh lý nhiều nét đặc thù… buộc bệnh viện đang gấp rút xây dựng một đề tài nghiên cứu về những rối loạn tâm thần do sử dụng Amphetamine và dẫn xuất.

H. chỉ là một trong nhiều bệnh nhân tâm thần vì ma túy tổng hợp đang điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Sự gia tăng của dạng bệnh này khiến khoa H. – khoa điều trị nghiện chất – trở nên quá tải. Hơn 50 giường bệnh của khoa luôn tiếp nhận điều trị trên 60 bệnh nhân.

Bác sĩ Lý Trần Tình – giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội – khẳng định xã hội vẫn dồn lo lắng vào tình trạng nghiện heroin, nhưng gần đây các hệ lụy từ nghiện các loại ma túy tổng hợp dạng Amphetamine và dẫn xuất (như “ma túy đá”, thuốc lắc Ecstasy…) mới là vấn đề đáng báo động. “Nhiều người dùng ma túy tổng hợp còn tìm cách thỏa mãn hưng phấn bằng cách sinh hoạt tình dục bừa bãi, thậm chí sinh hoạt tình dục tập thể” – bác sĩ Tình nói.

Bệnh nhân trí thức

Theo bác sĩ Tình, ma túy có thể chia làm các nhóm chất gây nghiện: chất dạng thuốc phiện; các chất kích thần nhóm Amphetamine, Methamphetamine, Ecstasy; các chất yên dịu gây ảo giác. Trong đó nhóm chất Amphetamine và các dẫn xuất (hay còn gọi là ma túy tổng hợp) đang trở thành nỗi ám ảnh của bác sĩ chuyên ngành tâm thần. Bệnh nhân chịu những rối loạn về thần kinh thường biểu hiện tức thời sau khi sử dụng.

“Biểu hiện phổ biến là nói nhiều, tự cao, đa nghi và kích động, tăng ham muốn tình dục, tăng nhạy cảm với ánh sáng, âm thanh. Khi sử dụng liều cao, bệnh nhân dễ rơi vào trạng thái loạn thần như hoang tưởng, ảo giác” – bác sĩ Tình phân tích. Bệnh nhân không chỉ nằm ở nhóm “thanh niên hư hỏng” như thường thấy ở người nghiện thuốc phiện, tại các đô thị lớn người nghiện ma túy tổng hợp đang xuất hiện nhiều hơn ở giới công chức, những người có trình độ, tốt nghiệp các trường đại học lớn…

Gia đình có thể phát hiện sớm người thân mình sử dụng ma túy tổng hợp qua các biểu hiện dễ thấy như: không ngủ 3-7 ngày liên tục, nhạy cảm với âm thanh, tiếng ồn, có các hoạt động thể chất liên tục (liên tục vặn vẹo hoặc đan các ngón tay vào nhau, tháo lắp sửa chữa đồ vật, đứng ngồi không yên)…

Bác sĩ Nguyễn Quang Bính – trưởng khoa H Bệnh viện Tâm thần Hà Nội – cho biết hiện vẫn chưa có phác đồ điều trị cụ thể cho bệnh nhân nghiện ma túy tổng hợp, mà chỉ điều trị trên những triệu chứng riêng lẻ. “Nguy hiểm là nhóm chất kích thích, thuốc lắc này thường gây ảo giác mạnh, có thể khiến người dùng gây tội ác ngay sau khi sử dụng. Có đến 48% người nghiện ma túy “có vấn đề” với pháp luật chính là những người nghiện Amphetamine” – bác sĩ Bính nói.

 

40 BÁNH HEROIN CÙNG NHIỀU VŨ KHÍ NÓNG BỊ THU GIỮ

vnexpress.net

40 BÁNH HEROIN CÙNG NHIỀU VŨ KHÍ NÓNG BỊ THU GIỮ

Công an Nghệ An phối hợp với nhiều đơn vị phá đường dây ma túy, bắt 3 người, thu giữ lượng lớn heroin cùng nhiều vũ khí nóng.

Chiều 17/7, công an tỉnh Nghệ An cho biết, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy (PC47) phối hợp với công an tỉnh Ninh Thuận, Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh bắt 3 người, thu giữ 40 bánh heroin, 2 khẩu súng ngắn, một quả lựu đạn, hàng chục viên đạn cùng lượng lớn tiền.

Đây là đường dây vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào Nghệ An rồi đưa đi tiêu thụ ở phía Nam được Phòng PC 47 theo dõi từ nhiều ngày trước đó.

hieu-5863-1405614722.jpg

Nguyễn Hiếu Song cùng tang vật 40 bánh lúc bị bắt. Ảnh: B.P

Rạng sáng 15/7, tại địa bàn Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, lực lượng chức năng phối hợp với cảnh sát địa phương mật phục bắt giữ Nguyễn Hiếu Song (45 tuổi), trú tại phường Quán Bàu, thành phố Vinh (Nghệ An) đang vận chuyển 40 bánh heroin trên đường từ Nghệ An vào miền Nam. Khám nhà riêng của Song, cảnh sát thu một số ngoại tệ và điện thoại di động.

Cùng ngày, cảnh sát bắt Nguyễn Văn Tuấn (43 tuổi) có biệt danh "Tuấn Lay", trú tại thành phố Vinh, được xem là mắt xích quan trọng của đường dây này. Khám nhà của "Tuấn Lay", cảnh sát thu 2 khẩu súng Colt 45, một quả lựu đạn, hàng chục viên đạn, một ôtô cùng 200 triệu đồng, ngoại tệ cùng tài liệu liên quan đến ma túy.

Lực lượng chức năng bắt tiếp một "mắt xích" khác tên Dũng (48 tuổi) trú tại TP HCM.

ma-tuy-40-7587-1405614722.jpg

Tang vật vụ án. Ảnh: B.P

Khai với nhà chức trách, cả 3 người này thừa nhận hành vi phạm tội. Chúng cho biết vận chuyển ma túy từ Nghệ An vào TP HCM để tiêu thụ.

Cảnh sát đang tiếp tục mở rộng vụ án và làm rõ vai trò của các đối tượng và số lượng ma túy những lần mà nhóm này vận chuyển thành công.

Văn Hải

TÁC HẠI CỦA CÁC THUỐC HƯỚNG THẦN (GÂY YÊN DỊU, GÂY NGỦ VÀ GIẢI LO ÂU)

TÁC HẠI CỦA CÁC THUỐC HƯỚNG THẦN (GÂY YÊN DỊU, GÂY NGỦ VÀ GIẢI LO ÂU)

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

Các thuốc gây êm dịu có tác dụng làm giảm căng thẳng và làm yên dịu tâm thần. Thuật ngữ gây yên dịu đồng nghĩa với thuật ngữ giải lo âu.

Các thuốc gây ngủ được sử dụng để gây ngủ.

Các thuốc gây yên dịu và giải lo âu là thuốc được dùng ban ngày còn thuốc ngủ được dùng ban đêm. Khi các thuốc gây yên dịu và giải lo âu được dùng ở liều cao chúng có thể gây ngủ như các thuốc gây ngủ. Ngược lại, khi các thuốc gây ngủ được dùng ở liều thấp chúng có thể gây yên dịu ban ngày, giống như các thuốc gây yên dịu và giải lo âu.

Các thuốc gây yên dịu và giải lo âu bao gồm benzodiazepine (Diazepam. Seduxem, Clorazepate, Alprazolam, Bromazepam, Clonazepam, Zolpidem…), họ meprobamate, họ piperazine (Atarax), họ benzoxazine (Stresam), họ azaspirodecadiones (Buspirone), họ cyclopyrolones (Zopiclone)…

Các thuốc gây ngủ bao gồm barbiturate và các chất tương tự barbiturate, một số benzodiazepnine (zolpidem: Stilnox; flunitrazepam: Rohypnol, nitrazepam: Mogadon)…

Ngoài ra các thuốc này còn có chỉ định khác (ngoài tâm thần) như chống động kinh, chống co giật, giãn cơ, gây mê và kết hợp trong gây mê.

Toàn bộ các thuốc này đều có dung nạp chéo với rượu và gây nghiện, gây tăng liều và gây hội chứng cai về cơ thể và tâm thần.

A. Dịch tễ

Theo DSM IV, ở Mỹ, khoảng 1/4-1/3 toàn bộ các chất nào có liên quan tới các trường hợp cấp cứu do lạm dụng chất. Tỉ lệ sử dụng các chất này giữa nữ và nam là 3/1. Benzodiazepine thường bị lạm dụng một mình nhưng những người nghiện cocaine cũng thường sử dụng benzodiazepine để giảm hội chứng cai. Còn nhừng người lạm dụng các chất dạng thuốc phiện sử dụng chúng để tăng hiệu quả khoái cảm của các chất dạng thuốc phiện. Những người lạm dụng amphetamine để giảm lo âu do các chất đó gây ra.

Ở Pháp, những người tuổi từ 18-75, sử dụng thường xuyên các thuốc hướng thần là 9%, trong đó nữ là 12% và nam là 6% (EROPP 2002, OFDT). Và ở lứa tuổi 17-18 là 2,9% trong dó nữ là 4,7% và nam là 1,3%.

B. Đặc điểm dược lý

Benzodiazepines, Barbiturates và các chất giống barbiturates có hiệu quả trước tiên trên phúc hợp receptor gama-amino-butyric acid (GABA) loại A (GABAA), các receptor này bao gồm kênh ion Clo gắn vào điểm GABA và cũng đã được xác định gắn vào các điểm tiếp nhận benzodiazepines. Khi các chất benzodiazepines, barbiturates hoặc các chất dạng barbiturates gắn vào các phức hợp receptor này, hiệu quả là làm tăng ái lực của receptor với các chất trung gian hóa học nội sinh của nó (GABA), và tăng lưu lượng ion Clo vào kênh neuron. Hiệu quả của sự tràn ngập ion Clo âm đi vào neuron dẫn đến sự ức chế, dẫn đến tăng phân cực các neuron tiếp theo đi ra ngoài tế bào.

Mặc dù tất cả các thuốc hướng thần nếu trên gây dung nạp và phụ thuộc vào cơ thể, cơ chế đằng sau các tác dụng này đã được hiểu rõ đối với benzodiazepines. Sau một thời gian sử dụng benzodiazepines kéo dài, có một sự giảm sút các hiệu quả của receptor gây ra bới sự đồng vận. Đặc biệt sau giai đoạn sử dụng benzodiazepine kéo dài, sự kích thích GABA của receptor GABAA làm lượng ion Clo đi vào ít hơn đã bị gây ra bởi sự kích thích GABA trước khi sử dụng.benzodiazepine. Sự điều hòa đáp ứng receptor kém đi không phải do giảm số lượng receptor hoặc giảm ái lực của receptor với GABA. Bản chất của vấn đề này là ở chỗ sự kết nối giữa các điểm gắn GABA với sự kích hoạt kênh ion Clo. Sự giảm hiệu quả trong sự liên kết đó có thể được điều hòa chính bên trong của phức hợp receptor GABAA hoặc bởi cơ chế thần kinh khác.

C. Biểu hiện lâm sàng

Sử dụng đường uống: các thuốc hướng thần nêu trên được sử dụng qua đường uống có hiệu quả như thư giãn vào buổi tối, tăng hoạt động tình dục, khoái cảm nhẹ, trong thời gian ngắn, giải lo âu, gây ngủ. Thường gặp ở những người trung niên, lớn tuổi.

Sử dụng đường tiêm tĩnh mạch: thường gặp ở những người trẻ tuổi, thường liên quan tới sử dụng bất hợp pháp. Tiêm tĩnh mạch barbiturate gây thoải mái, ấm người, cảm giác buồn ngủ, và người sử dụng có khuynh hướng sử dụng barbiturate nhiều hơn các chất dạng thuốc phiện do giá rẻ hơn. Sự nguy hiểm khi sử dụng bơm kim tiêm không sạch gây các bệnh lây nhiễm qua đường tiêm chích như HIV, viêm gian, nhiễm khuẩn huyết… Việc tiêm tĩnh mạch các thuốc này gây dung nạp nhanh và mạnh, gây phụ thuộc và hội chứng cai mạnh.

Quá liều

+ Benzodiazepine

Khác với barbiturate và các chất dạng barbiturate, với benzodiazepine có khoảng cách giữa liều điều trị và liều ngộ độc rất rộng nên an toàn hơn khi dùng quá liều. Tỉ lệ giữa liều tử vong và liều điều trị là 200/1 hoặc cao hơn bởi vì nguy cơ gây suy hô hấp rất thấp. Thậm chí khi dùng liều quá lớn (trên 2 gram) để tự sát, các triệu chứng cũng chỉ bao gồm: buồn ngủ, ngủ sâu, mất điều hòa động tác, hơi lú lẫn, các dấu hiệu sinh tồn suy giảm chút ít. Điều nguy hiểm hơn là uống benzodiazepine quá liều kết hợp với các chất gây ngủ, yên dịu khác như rượu chẳng hạn. thuốc flumazenil (Mazicon), một thuốc đối vận đặc trưng của benzodiazepine do vậy nó được sử dụng ở cơ sở cấp cứu.

+ Barbiturates

Các thuốc này gây tử vong khi sử dụng quá liều do làm suy hô hấp. Hiện tượng tử vong do thuốc này khá phổ biến ở những người nghiện, có ý đinh tự sát hoặc không cố y tự sát. Và nó cũng là loại thuốc thường gây tử vong ở trẻ em khi sử dụng quá liều. Tử vong do barbiturate được biểu hiện bằng hôn mê, ngừng thở, trụy tim mạch và tử vong.

Liều tử vong phụ thuộc đường sử dụng, mức độ dung nạp. Ở phần lớn những người lạm dụng barbiturate, tỉ lệ giữa liều tử vong và liều điều trị là từ 3/1 – 30/1. Những người nghiện sử dụng 1,5 gram/ ngày loại tác dụng nhanh, một số người nói rằng họ sử dụng 2,5 gram/ ngày trong vòng một tháng. Liều tử vong không có sự khác biệt lớn giữa người sử dụng lâu hay mới sử dụng. Sử dụng nạp diễn ra nhanh chóng.

D. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán lạm dụng và nghiện các thuốc hướng thần gây yên dịu, gây lo âu, gây ngủ

Theo tiêu chuẩn chung (DSM IV).

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc các thuốc hướng thần gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ

a. Vừa mới sử dụng các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ.

b. Biến đổi tâm lý và hành vi, xảy ra trong khi hoặc ngay sau khi sử dụng các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ (ví dụ như: có hành vi tấn công hoặc tình dục không hợp lệ, cảm xúc không ổn định, lý lẽ, các chúc năng nghề nghiệp, xã hội bị suy giảm).

c. Có ít nhất một trong các biểu hiện sau đây, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ.

(1) Nói líu lưỡi.

(2) Mất phối hợp vận động.

(3) Dáng đi thay đổi.

(4) Rung giật nhãn cầu.

(5) Suy giảm chú ý và trí nhớ.

(6) Sững sờ hoặc hôn mê.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc các rối loạn tâm thần khác gây ra.

3. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai các thuốc hướng thần gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ

a. Ngừng hoặc giam liều mạnh và kéo dài các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ.

b. Có ít nhất 2 trong số các biểu hiện sau dây, xảy ra từ vài giờ tới vài ngày sau tiểu chuẩn a.

(1) Tăng hoạt hệ thần kinh thực vật (vã mồ hôi hoặc mạch trên 100 ck/phút).

(2) Run tay mạnh.

(3) Mất ngủ.

(4) Buồn nôn.

(5) Có ảo tưởng hoặc ảo thính giác, xúc giác, thị giác tạm thời.

(6) Kích động tâm thần vận động.

(7) Lo âu.

(8) Có cơn co giật toàn thể.

c. Các triệu chứng ở tiêu chuẩn b gây ra đau khổ rõ rệt hoặc làm giảm sút các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc các rối loạn tâm thần khác gây ra.

4. Sảng run với thuốc hướng thần gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ

DSM IV cho phép làm chẩn đoán này với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ. Cần phân biệt với sảng run do hội chứng cai rượu thường gặp hơn so với sảng run do barbiturate hoặc benzodiazepine. Sảng run kết hợp với nhiễm độc có thể xảy ra với barbiturate hoặc benzodiazepine nếu liều sử dụng đủ cao.

5. Sa sút trí tuệ dai dẳng

DSM IV cho phép làm chẩn đoán này với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ. Sự tồn tại của chẩn đoán này đàng còn tranh luận bởi vì không chắc có hay không sự sa sút trí tuệ dai dẳng do chính việc sử dụng các chất trên. Vì vậy cần đánh giá chặt chẽ và thận trọng khi làm chẩn đoán này.

6. Rối loạn trí nhớ dai dẳng

DSM IV chi phép làm chẩn đoán này với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ. Rối loạn trí nhớ kết hợp với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ có thể được làm chẩn đoán phụ. Một số trường hợp có giai đoạn mất nhớ kết hợp với sử dụng ngắn hạn benzodiazepine với thời gian bán hủy ngắn như triazolam (halcion).

7. Rối loạn loạn thần

Các triệu chứng loạn thần của hội chứng cai barbiturate có thể được phân biệt với triệu chứng của sảng run do rượu. Kích động, hoang tưởng và ảo giác thường gặp là ảo thị, nhưng đôi khi là ảo xúc hoặc ảo thanh, xuất hiện sau hội chứng cai khoảng 1 tuần. Các triệu chứng loạn thần kết hợp với nhiễm độc hoặc hội chứng cai thường gặp do barbiturate nhiều hơn là do benzodiazepine và nó được chẩn đoán do chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ gây ra tình trạng loạn thần này. Tuy nhiên thầy thuốc có thể xác định có hay không các hoang tưởng hoặc ảo giác là các triệu chứng chiếm ưu thế.

TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT BAY HƠI, DUNG MÔI HỮU CƠ

TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT  BAY HƠI, DUNG MÔI HỮU CƠ

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

Các chất bay hơi bao gồm: các dung môi hòa tan, hồ keo, các dung môi trong bình xịt, dung môi pha sơn, các chất đốt. Một ví dụ đặc biệt của các chất này bao gồm khí ga, véc-ni, ga bật lửa, keo dán máy bay, chất hòa tan cao su, các dung dịch tẩy rửa, sơn phun, keo dán giầy, các dung dịch tẩy xóa. Các họat chất chính trong các chất bay hơi này bao gồm toluene, acetone, benzene, trichloroethane, perchlorethylene, trichlorrthylene, 1,2-dichloropropane và halogenated hydrocarbons. DSM IV loại trừ các khí gây mê (nitrous oxide và ether) và các chất gây giãn mạch tác động ngắn (amynitrite) ra khỏi các rối loạn liên quan tới các chất bay hơi.

A. Dịch tễ học

Ở Mỹ, các chất khí hít này tồn tại hợp pháp, rẻ tiền và dễ kiếm. Ba đặc điểm này góp phần vào việc chúng được sử dụng nhiều ở những người nghèo và trẻ tuổi. Năm 1991 (NIDA), khoảng 5% dân số Mỹ đã hít các chất này ít nhất một lần và khoảng 1% đang hít chúng. Ở lứa tuổi từ 18-25, có 11% đã hít chúng ít nhất một lần và 2% đang hít. Ở lứa tuổi 12-17, có 7% đã hít chúng ít nhất một lần và 2% đang hít.

Ở lứa tuổi 12 và lớn hơn, có khoảng 5% nói rằng đã luôn sử dụng hít các chất này và gần 1% nói đã hít chúng trong tháng vừa qua. Năm 1991 số liệu cho thấy 10,9% lứa tuổi từ 18-25, 9,2% lứa tuổi từ 26-34, 7% lứa tuổi trên 35, nói rằng họ đã luôn hít các chất khí này và 2% trong các nhóm này hít nó trong tháng vừa qua.

Trong tổng số tử vong do lạm dụng các chất, tử vong do hít các chất bay hơi chiếm 1% và trong tổng số lạm dụng các chất được cấp cứu tại khoa cấp cứu thì hít chất bay hơi chiếm gần 0,5%.

Ở Pháp, theo số liệu của ESCAPPAD 2003, OFDT, việc hít các chất bay hơi phổ biến thứ 2 sau cannabis mà lứa tuổi 17-18 đã sử dụng nhưng việc sử dụng thường xuyên thì ít. Ở lứa tuổi 17-18, có 4,7% (4,1% nữ, 5,2% nam) hít các chất bay hơi trong cuộc đời và  0,7% (0,5% nữ, 0,9% nam) đã hít chất bay hơi trong tháng vừa qua.

B. Đặc điểm dược lý

Các chất bay hơi thường được hít qua tẩu, ống hút, túi ni lông….hít qua đường mũi hoặc hơi của chúng qua đường miệng. Tác động chung của các chất bay hơi gây ức chế trên hệ thần kinh trung ương.

Các chất bay hơi hấp thụ nhanh ở phổi và nhanh chóng tác động lên não. Tác động xuất hiện trong vòng 5 phút và có thể kéo dài từ 30 phút tới vài giờ, phụ thuộc vào từng chất và liều lượng. Nồng độ của các chất này trong máu tăng lên khi sử dụng đồng thời rượu, có thể do cạnh tranh với các men gan. Mặc dù chỉ khoảng 1/5 có biểu hiện này.

C. Biểu hiện lâm sàng

Với một liều nhỏ ban đầu, chất bay hơi có thể kích thích gây khoái cảm và cảm giác bồng bềnh thoải mái; các chất này được sử dụng vì các tác dụng nêu trên. Các biểu hiện tâm thần khác ở liều cao có thể bao gồm sợ hại, ảo tưởng, ảo thanh, ảo thị và biến hình bản thân. Các triệu chứng thần kinh có thể bao gồm nói líu lưỡi , nói chậm chạp và đi loạng choạng. Việc sử dụng quá dài có thể gây thêm các biểu hiện khác như dễ bị kích thích, cảm xúc không ổn định và suy giảm trí nhớ.

Hội chứng cai có thể xảy ra khi ngừng sử dụng các chất này, tuy không thường xuyên; nó có biểu hiện bằng rối loạn giấc ngủ, dễ bị kích thích, hốt hoảng, vã mồ hôi, buồn nôn, nôn, nhịp tim nhanh và đôi khi có hoang tưởng, ảo giác.

D. Các tác dụng không mong muốn

Các chất bay hơi thường gây ra nhiều tác dụng có hại nghiêm trọng. Tác dụng có hại nguy hiểm nhất là tử vong có thể suy hô hấp, mất nhịp tim, ngạt thở, hít phải chất nôn hoặc bị tai nạn, hay bị thương (ví dụ lái xe trong tình trạng nhiễm độc). Các tác dụng có hại nghiêm trọng khác thường do sử dụng lâu dài các chất này bao gồm viên gan không phục hồi hoặc tổn thương thận và tổn thương cơ thường xuyên kết hợp với tiêu cơ vân. Sự kết hợp của các chất bay hơi này và nồng độ cao của đồng, kẽm và các kim loại nặng có thể gây ra teo não, động kinh thùy thái dương, giảm lưu lượng máu não, chỉ số IQ giảm và các thay đổi điện não  khác nhau. Các tác động có hại ở người nghiện bao gồm các triệu chứng mạch vành và phổi (đau thắt ngực và co thắt phế quản), các triệu chứng tiêu hóa (đau, buồn nôn, nôn và xuất huyết) và các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khác (viêm dây thần kinh ngoại biên, đau dầu, dị cảm, các dấu hiệu tổn thương tiểu não).

Đ. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện và lạm dụng các chất bay hơi.

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán chung ở phần trước

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc các chất bay hơi

a. Sử dụng  cố tình mới đây hoặc trong một thời gian ngắn, tiếp xúc liều cao các chất bay hơi (loại trừ các khí gây mê, gây giãn mạch).

b. Có những thay đổi tâm lý và hành vi không thích hợp rõ rệt (hung hăng, hành hung, thờ ơ, suy giảm lý lẽ, các chức năng nghề nghiệp, xã hội) xuất hiện trong khi hoặc ngay sau khi sử dụng hoặc tiếp xúc với các chất bay hơi.

c. Có ít nhất 2 trong số các dấu hiệu sau, xuất hiện trong khi hoặc ngay sau khi sử dụng hay tiếp xúc với các chất bay hơi.

(1) Choáng váng

(2) Rung giật nhãn cầu

(3) Mất phối hợp động tác

(4) Nói líu lưỡi

(5) Dáng đi xiêu vẹo

(6) Ngủ lịm

(7) Phản xạ giảm

(8) Tâm thần vận động chậm chạp

(9) Run

(10) Yếu toàn bộ các cơ

(11) Nhìn mờ hoặc nhìn đôi

(12) Sững sờ hoặc nhân đôi

(13) Khoái cảm

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc các bệnh tâm thần khác gây ra.

3. Sảng run do các chất bay hơi

Xem phần sảng run chung cho các chất.

Điều trị dùng thuốc đối kháng với receptor dopamine (haloperidol), tránh dùng benzodiazepine đề phòng suy hô hấp do tương tác thuốc.

4. Rối loạn thần do các chất bay hơi

Nêu chung trong phần chẩn đoán các rối loạn loạn thần Thầy thuốc có thể xác định rõ có hay không các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác chiếm ưu thế. Paranoid là hội chứng loạn thần chủ yếu trong khi bị nhiễm độc các chất bay hơi

5. Sa sút trí tuệ dai dẳng do các chất bay hơi

Có thể là do tác động nhiễm độc thần kinh của các chất bay hơi, và của kim loại được dùng phổ biến trong hợp chất các chất bay hơi (chì) hoặc tác động của thiếu ô xy kéo dài hay thường xuyên. Sa sút trí tuệ do các chất hay hơi không phục hồi giống như các sa sút trí tuệ khác nhưng ở mức độ trung bình.

6. Rối loạn cảm xúc và lo âu do các chất bay hơi

Trầm cảm là rối loạn cảm xúc phổ biến nhất trong sử dụng các chất bay hơi và rối loạn hoảng sợ và lo âu toàn thể là rối loạn lo âu phổ biến nhất.

 

TÁC HẠI CỦA MA TÚY DẠNG ĐÊ MÊ (THUỐC PHIỆN – MORPHIN – HEROIN)

TÁC HẠI CỦA MA TÚY DẠNG ĐÊ MÊ (THUỐC PHIỆN – MORPHIN – HEROIN)

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

I. Đặc điểm dược lý

1. Tác động của các chất dạng thuốc phiện lên não

Morphine khi vào cơ thể liên kết với proteine huyết tương với tỉ lệ khoảng 30% và được chuyển hóa chủ yếu thành dẫn xuất glucoronocojugues, dẫn xuất này qua chu trình ruột gan. 6-glucoronide là một chất chuyển hóa mạnh hơn 50 lần so với morphine. Đáp ứng sinh học với đường tiêm dưới da, và chỉ bằng 30% so với đường tiêm tĩnh mạch. Thời gian bán hủy của morphine trong máu khoảng 2-6 giờ. Các dẫn xuất glucoronocojugues được đào thải chủ yêu qua nước tiểu, thải trừ qua phân dưới 10% (sau 24 giờ 90% morphine bài tiết ra ngoài), chỉ một lượng nhỏ morphine vào hệ thần kinh trung ương và đến các điểm tiếp nhận morphine ở não.

Có nhiều điểm tiếp nhận morphine ở não (µ, ĸ, σ, δ) nhưng các điểm tiếp nhận µ là cơ sở chủ yếu, nằm rải rác ở não, tập trung nhiều nhất ở vừng dưới đồi, có một ít ở hệ thần kinh thực vật

Tại các điểm tiếm nhận µ có sẵn các peptide nội sinh (endorphine, enkephaline…), Các peptide này tác động qua lại với morphine và dẫn truyền morphine qua hệ thần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra các tác dụng chuyên biệt như: giảm đau, giải lo âu, chống trầm cảm, ức chế hô hấp (giảm ho), tăng trương lực cơ tron dạ dày, ruột (chống tiêu chảy), đặc biệt gây cảm giác sảng khoái. Tuy nhiên chính cảm giác sảng khoái lợi bất cập hại này đã quyến rũ người sử dụng và sản sinh ra hiện tượng nghiện với ba trạng thái: dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần.

2. Cơ sở sinh học của trạng thái dung nạp

Morphine tác động liên tục vào các điểm tiếp nhận µ sẽ ức chế hoạt động của các men adenylcyclase là men kích thích chất ATP (adenosin triphosphate) để sản xuất ra chất AMPc (adenosin monophosphate cyclique), một chất có vai trò thiết yếu trong sản sinh và dẫn truyền các xung động thần kinh, năng lượng cơ bản của hoạt động thần kinh và tâm thần. Do cơ thể không thể thiếu adenylcyclase được, nên để bù vào lượng adenylcyclase do morphine làm giảm, cơ thể phải liên tục tổng hợp adenylcyclase với nồng độ không ngừng tăng lên. Muốn làm giảm adenylcyclase để có được cảm giác sảng khoái như lần trước, lượng morphine đưa vào cơ thể lần sau phải cao hơn. Và cứ như thế, cơ thể người nghiện được tập dượt để dần dần dung nạp những liều morphine ngày càng tăng và tăng rất cao.

3. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể (hay trạng thái cai)

Trong khi người nghiện ngừng sử dụng các chất dạng thuốc phiện, cơ thể vẫn duy trì phương thức đáp ứng như khi có một lượng lớn chất dạng thuốc phiện đưa vào cơ thể hàng ngày, tức là vẫn liên tục tổng hợp một lượng lớn men adenylcyclase. Các chất morphine nội sinh (endorphine) được cơ thể sản xuất quá ít, không thể ức chế được lượng adenylcyclase quá lớn này.

Do nồng độ AMP vòng trong cơ thể tăng vọt lên, kích thích mãnh liệt hệ thần kinh, gây triệu chứng cơ thể rất khó chịu, báo động gây gắt trạng thái thiếu hụt morphine và nhu cầu cần thiết phải đưa ngay morphine vào cơ thể. Người nghiện không thể cưỡng lại được, phải bằng mọi giá tìm cho kỳ được chất dạng thuốc phiện để đưa vào cơ thể.

4. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần (hay thèm chất dạng thuốc phiện) trường diễn

Theo nhận định thống nhất của hội đồng các chuyên viên về lạm dụng chất của Tổ chức Y Tế thế giới thì sự lệ thuộc vào chất gây nghiện trước hết và chủ yếu là sự lệ thuộc về mặt tâm thần. Còn đối với sự lệ thuộc về mặt tâm thần. Còn đối với sự lệ thuộc về mặt cơ thể (trạng thái cai) thì co bản năng sinh tồn, cơ thể phải tự điều chỉnh để sớm chấm dứt các triệu chứng cơ thể gay gắt, khó chịu đựng trong vòng từ 1-2 tuần (trung bình trong vòng 10 ngày). Tuy nhiên, mất hội chứng cai rồi, người nghiện chất dạng thuốc phiện vẫn tiếp tục nhớ và thèm cái cảm giác khoái và cảm giác bình thản do chất dạng thuốc phiện tạo ra. Đó là nguyên nhân làm cho gần như 100%người nghiện chất dạng thuốc phiện tái nghiện sau khi cắt cơn một thời gian ngắn hoặc nếu không được điều trị duy trì. Đây là một hiện tượng sinh học phức tạp, chưa được sáng tỏ hoàn toàn nên có nhiều cách giải thích khác nhau tùy theo quan điểm của từng học giả.

Đa số các tác giả thừa nhận cảm giác sảng khoái và bình thản do chất dạng thuốc phiện gây ra là cơ sở sinh học của trạng thái thèm nhớ trường diễn chất ma túy. Và môi trường dễ có được chất dạng thuốc phiện nói riêng (và các chất gây nghiện nói chung) là nhân tố kích thích xung động tìm chất ma túy của người nghiện.

Một số nhà điều trị theo liệu pháp tập tính cho rằng trong một thời gian dài, tất cả các phản ứng của não bộ đối với chất dạng thuốc phiện nói riêng (và ma túy nói chung) đã đưa vào hàng ngày, nhất là phản ứng của các điểm tiếp nhận tương ứng, đều được lưu dấu vết bền vững vào bộ nhớ não, hình thành một phản xạ có điều kiện, có cơ sở sinh học kiên cố không dễ dàng xóa được. Do vậy, những người đã cai chất dạng thuốc phiện nhiều năm khi gặp một kích thích có liên quan đến các khâu cung cấp và sử dụng chất dạng thuốc phiện (đi qua nơi bán và nơi tiêm chích trước kia,…), các dâu vết của phản xạ có điều kiện được hoạt hóa, nhớ và thèm chất dạng thuốc phiện trở nên mãnh liệt, từ đó xuất hiện xung động đi tìm chất dạng thuốc phiện và tái nghiện.

Wikler (1972) giải thích sự lệ thuộc chất gây nghiện về mặt tâm thần theo lý thuyết phản xạ có điều kiện thực thi của Skinner, nhấn mạnh vào luận điểm sau đây:

Nghiện chất là một tập tính phức tạp, luôn tuân theo một qui luật về hiệu quả của Thorndike: "Mọi cơ thể sống đều nhạy cảm với hiệu quả của hành vi của mình". Một tập tính mang lại lợi ích về vật chất hay tâm thần hoặc mang lại cảm giác thích thú, dễ chịu thường được duy trì. Con chuột thí nghiệm của trường phái Skinner qua quá trình thăm dò và sửa chữa, luôn tránh cái bàn đạp gây cảm giác khó chịu và liên tục đạp vào bàn đạp gây thích thú hay đưa lại thức ăn.

Tiêm heroin gây cảm giác sảng khoái. Wikler gọi đó là một chất kích thích tăng cường dương tính. Cắt heroin gây ra hội chứng cai là một kích thích tăng cường âm tính.

Kích thích tăng cường dương tính và âm tính đều thúc đẩy người nghiện phải tiếp tịc sử dụng chất dạng thuốc phiện. Đó là cơ sở phản xạ có điều kiện thực thi của nghiện chất, thèm nhớ và tái nghiện chất.

Theo luận điểm trên, trong liệu pháp tập tính, tác giả dùng phương pháp khử điều kiện để chữa nghiện heroin bằng các kỹ thuật tăng cường dương tính và âm tính (khen thưởng, gây ghét sợ).

Như vậy có thể nhận định nghiện chất dạng thuốc phiện là một trạng thái nghiễm độc chất dạng thuốc phiện mạn tính xuất hiện theo cơ chế phản xạ có điều kiện thực thi, trên một người có khuynh hướng lạm dụng chất. Và các phương pháp khử điều kiện của liệu pháp tập tính có thể đóng góp một phần vào kết quả điều trị trạng thái thèm và nhớ chất dạng thuốc phiện vô cùng dai dẳng này.

II. Biểu hiện lâm sàng

1. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc cấp: chất dạng thuốc phiện (thuốc phiện, morphine, codeine, heroin…) có thể được sử dụng theo đường uống, hút, hít qua mũi, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Chất dạng thuốc phiện gây nghiện, gây khoái cảm nhất là khi sử dụng qua đường tiêm chích. Các triệu chứng kết hợp khác bao gồm: cảm giác người nóng lên, mạnh hơn ở các đầu chi, khô miệng, ngứa ngáy ở mặt (chủ yếu ở mũi), đỏ bừng mặt. Triệu chứng ban đầu biểu hiện bằng một giai đoạn yên dịu, ngủ gật.

Đối với những người sử dụng chất dạng thuốc phiện lần đầu hoặc thỉnh thoảng có thể có loạn khí sắc, buồn nôn và nôn.

Các biểu hiện cơ thể của chất dạng thuốc phiện bao gồm: suy hô hấp, co đồng tử, co các cơ trơn, vòng (co các cơ thắt), giảm huyết áp, giảm nhịp tim, giảm thân nhiệt. Biểu hiện suy hô hấp có ngay lập tức phụ thuộc vào mức độ ở não và phụ thuộc vào mức tương tác thuốc với phenothiazine và các thuốc MAOI (Monoamine oxidase inhibitor).

Các biểu hiện tâm thần: gây lơ ngơ, khoái cảm, ngây ngất, giảm đau, nó còn có tác dụng như một chất giải lo âu mạnh và chống trầm cảm. Điều này lý giải phần nào tính chất đồng bệnh lý giữa rối loạn lo âu và rồi loạn trầm cảm với lạm dụng chất dạng thuốc phiện.

Đặc biệt, để đạt được hiệu quả như trước người bệnh phải tăng liều sử dụng.

2. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc mạn tính chất dạng thuốc phiện

Nghiện chất dạng thuốc phiện thực chất là một trạng thái nhiễm độc mạn tính chất dạng thuốc phiện. Các trạng thái cơ bản của nghiện chất dạng thuốc phiện (dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần) đã được trình bày chi tiết ở chương I và II. Ở đây xin trình bày thêm những rối loạn cơ thể đi kèm theo trạng thái nhiễm độc mạn tính này:

– Các rối loạn tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón xen kẽ với đi rửa.

– Các rối loạn tiết niệu: đái khó, đái rắt.

– Các rối loạn thần kinh: nhức đầu, chóng mặt, run, giật cơ, dị cảm.

– Nhiễm khuẩn các loại: ghẻ lở, áp-xe, loét tĩnh mạch, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu, viêm gan B, C, đặc biệt là lây nhiễm HIV do sử dụng chung bơm kim tiêm.

3. Các giai đoạn của trạng thái cai heroin

– Giai đoạn đầu (6-8 giờ sau lần tiêm heroin cuối cùng): người bệnh bắt đầu ngáp, vã mồ hôi, chảy nước mắt, chảy nước mũi và lo lắng cao độ. Người bệnh cảm thấy thèm heroin, xuất hiện xung động tìm heroin mỗi lúc một tăng. Tiếp đến giãn đồng tử, nổi da gà, trong người cảm thấy lúc nóng, lúc lạnh, co thắt cơ, run, mất ngủ hay giấc ngủ không yên, luôn thức giấc.

– Giai đoạn tiếp theo (18-24 giờ sau lần tiêm heroin cuối cùng): xuất hiện buồn nôn hay nôn, mạch huyết áp, nhịp thở đều tăng, có thể có sốt nhẹ.

– Sau từ 24-48 giờ: xuất hiện đi rửa và trạng thái mất nước, dị cảm mạnh.

– sau 48-72 giờ: các triệu chứng ở các giai đoạn nói trên tăng đến đỉnh điểm sau đó giảm dần.

– Sau 7-10 ngày: mặc dù không điều trị, các triệu chứng nêu trên cũng dần dần biến mất. Một số rối loạn chức năng nhẹ có thể còn tồn tại nhiều tháng ở một số trường hợp.

4. Các tác dụng không mong muốn

Thường gặp là ngủ gà, lú lẫn, nôn, buồn bôn, táo bón. Cũng có thể thấy yên dịu, trạng thái kích thích, ác mộng (đặc biệt ở người già có thể có ảo giác), suy hô hấp, tăng áp lực nội sọ, bí tiểu nhất là khi bị u xơ tuyến tiền liệt.

Có mối liên quan chặt chẽ giữa các rối loạn liên quan tới lạm dụng chất dạng thuốc phiện với sử dụng chung bơm kim tiêm gây lây truyền viêm gan B, C và HIV/AIDS và đặc biệt là tương tác với thuốc meperidine và các thuốc MAOIs, điều này có thể gây ra rối loạn nặng hệ thần kinh thức vật, kích động, hôn mê, co giật và tử vong.

Phản ứng dị ứng với các chất dạng thuộc phiện cũng có thể xảy ra sốc phản vệ, phù phổi cấp, và tử vong nếu bệnh nhân không được điều trị kịp thời và thích hợp.

5. Quá liều

Tử vong do sử dụng quá liều các chất dạng thuốc phiện thường gặp là do tác dụng gây ngừng thở của các chất dạng thuốc phiện. Triệu chứng quá liều bao gồm: thờ ơ, hôn mê, thở chậm, giảm thân nhiệt, giảm mạch, giảm huyết áp. Khi có biểu hiện bộ ba triệu chứng hôn mê, co đồng tử, suy hô hấp, thầy thuốc cần phải nghĩ ngay lập tức tới quá liều chất dạng thuốc phiện. Thầy thuốc phải khám tìm dâu vết tiêm chích ở mọi chỗ trên cơ thể mà bệnh nhân có thể tiêm chích kể cả tĩnh mạch dương vật.

– Xử trí khi có biểu hiện quá liều

  • Tạo thông thoáng đường thở, duy trì các chỉ số sống bình thường.
  • Tiêm tĩnh mạch Naloxone 0,4 mg, liều này có thể lặp lại 4-5 lần trong 30-45 phút đầu tiên. Bệnh nhân có thể tỉnh trở lại nhưng vì thời gian bán hủy của naloxone ngắn nên bệnh nhân có thể lại quay lại tình trạng ban đầu trong 4-5 giờ, nên cần theo dõi chặt chẽ. Con cơ giật có thể gây ra quá liều meperidine và có thể dự phòng bằng naloxone. Cần thận trọng khi chỉ định naloxone tránh gây ra hội chứng cai sau đó.

III. Tác hại

Chất dạng thuốc phiên nói chung và heroin nói riêng là một loại gây nghiện mạnh, gây dung nạp nhanh và mạnh, gây lệ thuộc cơ thể cũng như lệ thuộc tâm thần, gây nhiễm độc cấp và mạn. Việc điều trị cũng gặp rất nhiều khó khăn do tỉ lệ tái nghiện cao.

Do các đặc tính vừa nêu trên, người nghiện lúc đầu chủ hút, hít heroin mỗi ngày 1 lần nhưng càng về sau liều lượng ngày càng tăng cao, số lần sử dụng cũng phải tăng thêm. Rồi chuyển sang chích mới có thể đạt được hiệu quả như ban đầu. Vài giờ sau khi sử dụng ngươi fnghieenj thấy thoải mái dễ chịu và tiếp sau đó lại cảm thấy thiếu thuốc, thèm thuốc và lại đi tìm heroin. Sau khoảng 6-8 giờ nếu không có heroin các triệu chứng cơ thể của hội chứng cai bắt đầu xuất hiện buộc người nghiện bằng mọi giá phải tìm cho kỳ được heroin. Cứ vậy người nghiện không còn thời gian để làm việc khác. Tác hại của nghiện heroin được thể hiện trên nhiều mặt: sức khỏe, công việc, kinh tế, gia đình, xã hội.

1. Về sức khỏe

Người nghiện chán ăn dẫn đến gầy sút, sợ lạnh nên lười vệ sinh thân thể, dễ bị các bệnh da liễu, bệnh lao, các bệnh nhiễm khuẩn do tiêm chích không vô trùng (viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu…). Luôn có nguy cơ bị sốc thuốc do tiêm thuốc nhanh và quá liều nhằm tìm lại khoái cảm như trước. Đặc biệt dùng chung bơm kim tiêm và tình dục không an toàn dễ bị lây truyền các bệnh hoa liễu, viêm gan B, C và HIV/AIDS.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị thay thế bằng methadone (1997-2002), tỉ lệ viêm gian B và C trước khi vào điều trị là 41,17% (trên 68 bệnh nhân) và ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị duy trì bằng Naltrexone (2003-2007), tỉ lệ viêm gian B và C là 66,19% (trên 482 bệnh nhân).

Về mặt tâm thần nghiện heroin thường gây biến đổi nhân cách theo hướng xấu do ảnh hường của nhóm bạn nghiện: thiếu kiềm chế cảm xúc, thường xuyên xung đột với gia đình, lừa dối mọi người, không quan tâm tới con cái, từ bỏ mọi ham muốn sở thích trước kia, thiếu tinh thần trách nhiệm, thường xuyên ở trong tình trạng nhiễm độc heroin (tâm thần lơ mơ, đi loạng choạng, dễ bị tai nạn hoặc gây tai nạn cho người khác). Ngoài ra còn có thể có các rối loạn tâm thần khác như lo âu, trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác…

2. Về công việc

Do phần lớn thời gian dành cho việc tìm kiếm và sử dụng heroin nhằm giải quyết tình trạng đói thuốc, người nghiện luôn chểnh mảng, không tập trung vào công việc và học tập, không tuân thủ giờ giấc, nội qui nên dẫn đến mất việc hoặc phải bỏ học. Nghiên cứu của chúng tôi trên nhóm bệnh nhân được điều trị duy trì bằng methadone (68 bệnh nhân) cho thấy: trước nghiện 78,4% có nghề nghiệp hoặc đi học nhưng bị nghiện, 72,5% không nghề nghiệp hoặc bỏ học. Ở nhóm naltrexone (482 bệnh nhân) trước nghiện 55,81% có nghề nghiệp hoặc đi học, nhưng khi bị nghiện 58,71% không nghề nghiệp hoặc bỏ học. Điều này chứng tỏ rằng có ít nhiều khả năng vì không có việc làm, giao du với bạn xấu rồi dẫn tới nghiện ma túy. Nhưng chắc chắn nghiện ma túy tất yếu sẽ dẫn tới mất việc làm.

3. Về kinh tế

Số tiền người nghiện phải chi cho heroin ngày càng nhiều do phải tăng liều và tăng số lần sử dụng trong khi thu nhập từ lao động ngày càng giảm, thậm chí không kiếm ra tiền. Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn tới chỗ lừa dối mọi người để có tiền tiêu cho heroin. Tiếp theo đó là bán đồ đạc cá nhân rồi đồ đạc của gia đình. Khi không còn gì để bán nữa thì ăn cắp, ăn trôm ngoài xã hội, cướp giật, giết người, mại dâm, buôn bán ma túy… Cũng theo nghiên cứu của chúng tôi ở 68 bệnh nhân trước điều trị methadone phải chi trung bình 300.000 đồng/ngày cho ma túy so với mức lương tối thiểu vào thời điểm đó là 180.000 đồng/ tháng.

4. Về gia đình

Người nghiện thường xuyên nói dối, thức đêm, ngủ ngày, ăn kém, không tôn trọng giờ giấc sinh hoạt trong gia đình, luôn đi đêm về hôm, thay đổi thái độ với người trong gia đình, không hoàn thành trách nhiệm của mình với các thành viên khác trong gia đình.  Kết quả một mẫu nghiên cứu của chúng tối trên 68 bệnh nhân: theo báo cáo của gia đình có tới 89% bệnh nhân có hành vi vi phạm trong gia đình ở các mức độ khác nhau như từ nói dối để có tiền, bán đồ dùng cá nhân, lấy tiền của gia đình, bán đồ dùng của gia đình tới cưỡng ép người thân để có tiền mua ma túy. Ở một mẫu nghiên cứu khác trên 482 bệnh nhân, theo báo cáo của gia đình có tới 84,65% bệnh nhân vi phạm ở các mức dộ như đã nói ở trên.

5. Về mặt xã hội

Một số người nghiện bắt đầu buôn bán chất gây nghiện để có tiền mua heroin. Số khác có thể lao vào từ mại dâm, ăn trộm, ăn cắp, đến tham gia các băng nhóm tội phạm, cướp giật, giết người. Một số người nghiện thuộc gia đình có tài sản, đầu tiên bán đồ dùng, rồi lừa dối người nhân để có tiền, rồi lấy trộm tiền của gia đình, bán đồ đạc của gia đình. Số khác được thừa kế tài sản lớn cũng dần bán đi hết để chi cho heroin và kết cục là sống ngoài lề xã hội.

Theo báo cáo của cục AIDS Bộ Y Tế (2010) hiện cả nước có trên 200.000 người nhiễm HIV/AIDS có hồ sơ kiểm soát, trong đó trên 60% liên quan tới tiêm chích chất gây nghiện. Đây là con số hết sức báo động, nó không chỉ có vấn đề tội phạm mà còn có nguy cơ bùng phát đại dịch HIV/AIDS ra toàn xã hội.

Những thiệt hại do người nghiện gây ra cho xã hội bao gồm nhiều mặt:

– Về kinh tế: giảm sút nguồn lực lao động, gây phí tổn to lớn trong công tác cai nghiện và chống tái nghiện cũng như công tác dự phòng.

– Về trật tự an toàn xã hội: bi đe dọa do các hành vi tội phạm rất đa dạng (buôn bán chất gây nghiện, lừa đảo, cướp giật, băng nhóm xã hội đen…).

– Về mặt văn hóa: hủy hoại nếp sống lành mạnh trong các gia đình và trong cộng đồng.

Một thí dụ để minh họa: thời gian qua thành phố Hồ Chí Minh đã đưa đi điều trị tập trung khoảng 25.000 người nghiện với thời hạn 5 năm. Vấn đề này có nhiều lý do khác nhau nhưng lý do bức xúc nhất có thể là vấn đề tội phạm liên quan tới sử dụng chất gây nghiện đã ảnh hưởng lớn tới trật tự an toàn của thành phố cũng như tới đầu tư nước ngoài vào thành phố.

TÁC HẠI CỦA MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG KÍCH THÍCH – COCAINE

TÁC HẠI CỦA MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG KÍCH THÍCH – COCAINE

Cocaine là một trong những chất gây nghiện bị lạm dụng phổ biến và nguy hiểm nhất ở các nước châu Mỹ và châu Âu. Ở Việt Nam hiện chưa phát hiện tình trạng buôn bán, lạm dụng cocaine, có thể do cocaine chưa thâm nhập vào thị trường Việt Nam vì lý do nào đó. Cocaine thường bị lạm dụng ở chế phẩm mạnh nhất của nó, freebase và crack (crack cocaine). Cocaine được chiết xuất từ cây coca có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ở đó các cư dân đại phương thường nhai các lá và cành nhỏ để có được hiệu quả kích thích. Các alkaloid cocaine được chiết xuất đầu tiên vào năm 1860 và được sử dụng trong y học như là một chất gây tê cục bộ, chủ yếu trong phẩu thuật mắt, mũi và họng vì nó giúp gây tác dụng co mạch. Năm 1884 Sigmund Freud đã tiến hành nghiên cứu tác dụng dược lý chung của cocaine và coi nhó như một loại thuốc chông trầm cảm. Từ 1880-1890, cocaine được biết đến như loại thuốc chữa khỏi nhiều bệnh. Tuy nhiên vào năm 1914 cocaine đã được xếp vào loại các chất gây nghiện tiếp theo morphine và heroin, vì tác dụng gây hại và gây nghiện của nó.

A. Dịch tễ học

Ở Mỹ, khoảng 1,9 triệu người Mỹ, bao gồm 1,9% học sinh trung học phổ thông đã sử dụng cocaine trong tháng qua, tuy nhiên sử dụng cocaine hiện nay có chiều hướng thuyên giảm do nhận thức về nguy cơ liên quan đến sử dụng cocaine trong dân chúng tăng lên qua các chiến dịch truyền thông về cocaine và tác hại của nó. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây ở một mức độ nào đó lại gia tăng hiện tượng sử dụng crack, một dạng mạnh hơn cocaine rất nhiều. Sử dụng Crack phổ biến nhất ở lứa tuổi 18-25, do giá rẻ hơn cocaine 10 lần.

Ở Mỹ, năm 1991 có khoảng 12% dân số Mỹ đã sử dụng cocaine ít nhất 1 lần và 1,9% đã sử dụng crack ít nhất một lần, 0,5% đã sử dụng crack trong năm qua, 0,2% đã sử dụng crack trong tháng qua. Lứa tuổi sử dụng nhiều nhất từ 18-25 tuổi (18% đã sử dụng cocaine ít nhất 1 lần và 2% vẫn đang sử dụng cocaine; 3,8% đã sử dụng crack ít nhất một lần). Mặc dù sử dụng cocaine có tỷ lệ cao nhất ở nhóm người không có việc làm nhưng nó cũng được sử dụng ở nhóm người có học vấn và kinh tế xã hội cao. Tỉ lệ nam giới sử dụng cocaine cao hơn 2 lần so với nữ giới (NIDA, 1991).

Ở Pháp, tỉ lệ sử dụng cocaine ở lứa tuối 18-75 là 2% (EROPP 2002); ở lứa tưởi 17-18 là 2,3%, và sử dụng trong tháng qua là 0,9%. Tỉ lệ sử dụng crack ở lứa tuổi 17-18 là 0,9%, và sử dụng trong tháng qua là 0,3% (ESCAPAD 2003, OFDT).

B. Đặc điểm dược lý

Cocaine nhanh chóng được hấp thu và chuyển hóa bởi esterase huyêt thanh và ở gan. Thời gian kích thích của nó ngắn, từ 3-45 phút, phụ thuộc vào liều lượng và đường sử dụng.

Hệu quả dược động học đầu tiên của cocaine (liên quan tới hiệu quả trên hành vi của thuốc) do phong tỏa cạnh tranh việc thu hồi dopamine bởi hệ thống vận chuyển dopamine. Việc phong tỏa thu hồi dopamine làm tăng độ tập trung dopamine ở synapse và dẫn tới tăng hoạt tính của receptor D1 và D2, ngoài ra cocaine cũng gây ra ức chế thu hồi catecolamine, norepinephrine và serotonin. Hiệu quả trên hành vi thông qua hoạt tính này, gây tăng cường sự chú ý. Cocaine làm giảm lưu lượng máu não và sử dụng glucose ở não. Hiệu quả trên hành vi của cocaine hầu như ngay lập tức và kéo dài khoảng 30-60 phút, vì vây jcaanf thiết phải sử dụng lặp lại để duy trì hiệu quả nhiễm độc. Mặc dù hiệu quả của cocaine trên hành vi thì ngắn những chất chuyển hóa của nó có thể tồn tại trong máu và nước tiểu tới 10 ngày.

Cocaine là một chất gây nghiện mạnh, sự phụ thuộc về tâm thần có thể xảy ra sau 1 lần sử dụng bởi vì hiệu quả mạnh của nó có tác dụng củng cố dương tính trên hành vi. Khi sử dụng lặp lại, sự dung nạp và sự nhạy cảm tăng lên, mặc dù sự dung nạp và nhạy cảm hiển nhiên do nhiều yếu tố và không dễ dàng đoán trước. Có sự phụ thuộc về cơ thể, tuy nhiên hội chứng cai của cocaine nhẹ hơn so với hội chứng cai của các chất dạng thuốc phiện.

C. Biểu hiện lâm sàng

Cocaine thường được sử dụng qua đường hít trực tiếp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm kết hợp với hút. Hít cocaine ít nguy hiểm hơn tiêm chích và hút cocaine. Mặc dù cocaine có thể được dùng qua đường uống những nó ít hiệu quả hơn các đường khác.

Crack là một chất cực kỳ mạnh, là chất tinh chế của cocaine. Nó được bán số lượng nhỏ và sẵn sàng để hút (thường được gọi là rock). Crack gât nghiện rất mạnh, thậm chí chỉ với 1 hoặc 2 lần sử dụng là đã gây thèm muốn mãnh liệt nên người nghiện thường sử dụng bạo lực để có tiền mua crack hút.

Biểu hiện lâm sàng có nhiều loại khác nhau (tham khảo trong phần tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cocaine ở mục sau).

Các tác hại

Tác hại phổ biến do sử dụng cocaine đường mũi (hít trực tiếp) làm xung huyết niêm mạc mũi, cũng có thể viêm tấy nghiêm trọng, căng phồng lên, chảy máu, và loét niêm mạc mũi. Sử dụng lây ngày cocaine cũng có thể dẫn đến loét sâu do nhiễm khuẩn mũi. Việc sử dụng free-base (tên đường phố của cocaine chuyển từ dạng muối sang báe) và crack có thể gây tổn thương nghiêm trọng phế quản và phổi. Tiêm tĩnh mạch cocaine thường kết hợp với nhiễm khuẩn, tắc mạch, lây truyển viêm gan B, C và HIV. Các biến chứng thần kinh nhẹ như loạn trương lực cơ, tic và đau đầu kiểu migraine. Tuy nhiên biến chứng nặng do sử dụng cocaine là tác dộng trên mạch máu não, động kinh, tim mạch.

– Các tác dụng trên mạch máu não: bệnh mạch máu não phổ biến liên quan tới sử dụng cocaine là nhồi máu não không xuất huyết. Khi có nhồi máu não xuất huyết xảy ra, chúng có thể bao gồm xuất huyết dưới nhện, xuất huyết não, xuất huyết não thất. Có các cơn thiếu máu tạm thời thường kết hợp với sử dụng cocaine. Tất cả những rối loạn mạch não nêu trên thường liên quan tới tác động gây co mạch của cocaine.

– Các cơn co giật: gặp khoảng 3-8% trường hợp cấp cứu do cocaine ở các phòng cấp cứu. Cocaine là chất gây nghiện thường gây ra cơn co giật nhiều nhất, tiếp theo đó là amphetamine. Cơn co giật cocaine có nguy cơ cao hơn ở những người cơ tiền sử động kinh, sử dụng liều cao cocaine, sử dụng crack.

– Các tác dụng trên tim mạch: nhồi máu cơ tim và ngoại tâm thu thất có thể là những bất thường về tim mạch thường gặp nhất do cocaine. Các bệnh cơ tim có thể xảy ra do sử dụng kéo dài cocaine. Nhồi máu não, nhồi máu tim có thể là những biến chứng gia tăng của rối loạn chức năng tim mạch do cocaine.

– Tử vong: sử dụng liều cao cocaine kết hợp với cơn co giật, suy hô hấp, bệnh mạch máu não và nhồi máu cơ tim, tất cả biên chứng vừa nêu trên có thể dẫn tới tử vong ở những người sử dụng cocaine. Những người sử dụng cocaine có thể có các dấu hiệu cảnh báo như ngất xỉu hoặc đau thắt ngực nhưng cũng có thể họ không để ý đến các dấu hiệu này bởi vì họ không thể kìm chế được thèm muốn sử dụng cocaine. Tử vong cũng có thể do sử dụng kết hợp các chất dạng thuốc phiện với cocaine.

D. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện và lạm dụng cocaine

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán chung ở phần trước (DSM IV).

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cocaine

a. Vừa mới sử dụng cocaine.

b. Thay đổi hành vi hoặc tâm lý không thích hợp, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng cocaine (ví dụ khoái cảm hoặc cảm xúc cùn mòn; thay đổi sự hòa đồng, tăng tỉnh táo; tăng nhạy cảm trong quan hệ; lo âu; căng thẳng hoặc cáu giận; hành vi vô nghĩa; giảm sút lý lẽ hoặc giảm sút các chức năng xã hội nghề nghiệp).

c. Có ít nhất 2 trong số các triệu chứng sau, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng cocaine:

(1) Nhịp tim tăng nhanh hoặc chậm.

(2) Giãn đồng tử.

(3) Tăng hoặc giảm huyết áp.

(4) Vã mồ hôi hoặc giảm cảm giác lạnh.

(5) Buồn nôn hoặc nôn.

(6) Sút cân rõ rệt.

(7) Kích động tâm thần vận động hoặc chậm chạp.

(8) Yếu cơ, suy hô hấp, đau ngực, hoặc mất nhịp tim.

(9) Lú lẫn, co giật, loạn động, loạn trương lực cơ hoặc hôn mê.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác gây ra.

Đặc trưng nếu kèm theo rồi loạn nhận thức.

3. Tiêu chuẩn chẩn đôán hội chứng cai cocaine

a. Ngừng hoặc giảm mạnh sử dụng cocaine hoặc giảm sử dụng kéo dài

b. Loạn cảm xúc và có ít nhất 2 sự thay đổi tâm lý sau đây, xuất hiện từ vài giờ tới vài ngày theo tiêu chuẩn

(1) Mệt mỏi.

(2) Ác mộng.

(3) Mất ngủ hoặc ngủ nhiều.

(4) Tăng khẩu vị.

(5) Kích động hoặc tâm thần vận động chậm.

c. Triệu chứng ở tiêu chuẩn b gây ra buồn phiền hoặc giảm sút rõ rệt các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các chức năng quan trọng khác.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác gây ra.

4. Các rối loạn loạn thần liên quan tới cocaine

Hoang tưởng paranoid và ảo thanh có thể xảy ra ở 50% những người sử dụng cocaine. Việc xuất hiện các triệu chứng này phụ thuộc vào liều sử dụng, thời gian sử dụng và tính mẫn cảm của mỗi cá nhân đối với cocaine. Các rối loạn loạn thần do cocaine thường phổ biến ở những người tiêm tĩnh mạch cocaine và sử dụng crack. Nam giới thường bị nhiều hơn nữ giới. Thường gặp hoang tưởng paranoid và ảo thanh, còn ảo giác xúc giác và ảo thị ít gặp hơn.

5. Rối loạn cảm xúc liên quan tới cocaine

Rối loạn cảm xúc liên quan tới cocaine có thể khởi phát trong giai đoạn nhiễm độc hoặc cai cocaine. Thường gặp hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm trong giai đoạn nhiễm độc cocaine, còn trầm cảm thường gặp trong giai đoạn cai cocaine.

6. Rối loạn lo âu liên quan tới cocaine

Các rối loạn hoảng sợ, lo sợ ám ảnh và ám ảnh cưỡng bức thường gặp trong giai đoạn nhiễm độc hoặc cai cocaine.

7. Rối loạn chức năng tình dục liên quan đến cocaine

Rối loạn chức năng tình dục có thể bắt đầu khi bị nhiễm độc cocaine. Mặc dù cocaine được sử dụng như một thuốc kích dục và như một cách để làm chậm khoái cảm, nhưng việc sử dụng lặp lại chúng có thể gây ra bất lực.

8. Rối loạn giấc ngủ liên quan tới cocaine

Rối loạn giấc ngủ có thể xảy ra trong khi bị nhiễm độc (mất ngủ) hoặc hội chứng cai cocaine (ngủ nhiều).

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

pcmt.ubdt.gov.vn

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác. Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình và không muốn phát huy khả năng.

 

Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức). “Chất lượng” của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.

 

Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài. Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi.



Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC. Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence).



Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp.



Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, những nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF. Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu lô gích (disputing intervention), E là tác động (effect), và F- là những cảm xúc mới (new feelings).



Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance). Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế.



Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác….Ellis đã tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều đó.



Những người tham gia trị liệu bằng nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm. Tuy nhiên, thời gian tham gia trị liệu theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)



Áp dụng trong việc hỗ trợ người nghiện rượu, ma túy



Từ khi ra đời đến nay, liệu pháp nhận thức hành vi đã được áp dụng rất nhiều trong việc hỗ trợ những người bị rối loạn cảm xúc (trầm cảm, sợ hãi, tức giận), những người gặp khó khăn trong mối quan hệ với người khác, và đặc biệt có hiệu quả với những người nghiện chất (rượu, ma túy).



Với những người sử dụng chất gây nghiện lần đầu hoặc sử dụng không thường xuyên, khi bị cảnh sát bắt giữ, thay cho việc gửi những người này vào nơi điều trị nghiện hoặc nhà tù, họ được chuyển đến một nơi có tên gọi là “chuyển làn”, đây chính là một chương trình giáo dục giúp thay đổi suy nghĩ và hành vi trong một thời gian nhất định.



Trong thời gian đó, sự hỗ trợ của các nhà giáo dục, tư vấn…giúp cho người sử dụng chất gây nghiện chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống cá nhân, lý do của việc sử dụng chất gây nghiện, mối quan hệ với những người xung quanh, và tất nhiên, cả những “kiểu suy nghĩ” đặc trưng của mỗi người.



Những người sử dụng chất gây nghiện trong giai đoạn này được coi như “khách hàng”, một người được đi đào tạo và nhiệm vụ của họ là hợp tác, tuân thủ chương trình đào tạo dành cho mình. Thời gian tham gia chương trình này sẽ do bản thân người sử dụng chất gây nghiện và cán bộ tư vấn, trị liệu xác định, nhưng thường kéo dài từ 1-3 tháng.



Đối với những người nghiện được đưa vào các cơ sở điều trị hoặc vào tù, để giúp cho họ thích nghi với cuộc sống bên ngoài sau thời gian cai nghiện hoặc hết hạn tù, họ được tham gia một một chương trình miễn phí gọi là Chuẩn bị hòa nhập. Lúc này liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ tích cực giúp cho những người tham gia hiểu về bản thân nhiều hơn, chuẩn bị ứng phó với những thay đổi mới

 

Việc áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi cho những người nghiện chất trong chương trình này không chỉ được điều trị về việc nghiện chất, mà còn tạo điều kiện để những người nghiện “tự giáo dục các suy nghĩ”, học cách tập trung thay đổi suy nghĩ của bản thân, tập trung vào những vấn đề cần giải quyết trong cuộc sống thay cho những suy nghĩ tiêu cực, tự đổ lỗi, mong muốn trả thù…



Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện con số người nghiện ma túy được quản lý ở Việt Nam vào khoảng 180.000 người, chưa kể những người mới sử dụng. Với nhiều thay đổi về mặt quan điểm, chính sách đối với người nghiện chất nói chung và người sử dụng ma túy nói riêng, chúng ta đang trên con đường chuyển đổi từ việc đưa người sử dụng ma túy vào trại tập trung sang hình thức cai nghiện tự nguyện dựa vào cộng đồng với nhiều chương trình điều trị phù hợp.



Để việc điều trị cho người nghiện chất được hiệu quả hơn, cũng như việc áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau trong hỗ trợ người nghiện trong tương lai ở Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện để quá trình đào tạo, trị liệu, giáo dục được lồng nghép trong tất cả các bước hỗ trợ người cai nghiện chất, tập trung vào các chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao cho những nhà tư vấn, trị liệu, khuyến khích những mô hình thử nghiệm hỗ trợ người nghiện và tạo điều kiện cho các tổ chức chuyên môn cùng tham gia.



Điển hình, từ năm 2009-2012, trong khuôn khổ của một cấu phần dự án HIV/AIDS nơi làm việc mang tên Chuẩn bị trước khi đi làm, dành cho những nhóm dễ bị tổn thương trong đó có người đã từng sử dụng ma túy, những tư vấn viên việc làm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển Cộng đồng (SCDI) đã thử nghiệm đưa những kỹ thuật liệu pháp nhận thức hành vi trong quá trình đào tạo và tư vấn.



Trong quá trình đào tạo về nhận thức bản thân, tư vấn viên đã lựa chọn những suy nghĩ phổ biến và gây ra những cảm xúc tiêu cực cho người sử dụng ma túy như: Sử dụng ma túy là một điều xấu xa, người nghiện ma túy là những người không tốt, Những người sử dụng ma túy rất khó tìm kiếm việc làm…để cùng những người dùng ma túy thực hành cách thay thế những suy nghĩ có ích hơn.



Những người sử dụng ma túy đã chia sẻ những cảm giác bất lực, xấu hổ, mất hy vọng, thiếu tự tin, tự đổ lỗi cho bản thân…. khi để những suy nghĩ trên “ám ảnh trong đầu”. Người hướng dẫn và các bạn đồng đẳng đã giúp họ thay thế suy nghĩ bằng cách: Dừng suy nghĩ (trong những trường hợp những suy nghĩ tiêu cực trên quá ảm ảnh quá nặng) hoặc thay thế suy nghĩ (ví dụ, sử dụng ma túy là một điều không tốt cho sức khỏe, nhưng điều đó không có nghĩa những người sử dụng ma túy là người không tốt; mọi người thường nghĩ những người sử dụng ma túy rất khó kiếm việc làm, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm được việc làm)…



Sau khi được tham gia thực hành bài tập, những người sử dụng ma túy đều chia sẻ một tâm trạng thoái mái, dễ chịu và cởi mở hơn khi nói về vấn đề của mình. Việc tích cực hơn. Tuy nhiên, đây là một hoạt động mang tính lồng nghép và thử nghiệm nên không có điều kiện để áp dụng cho nhiều người và chỉ giới hạn trong khoảng thời gian nhất định.

 

Mai Thị Việt Thắng

Nguồn tiengchuong.vn

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI

tamlythuchanh.com

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI

 

  1. 1. Những vấn đề chung:

1.1.Khái niệm về Liệu pháp nhận thức – hành vi:

Tương tự với nội dung của Liệu pháp nhận thức – hành vi, có tác giả (Kazdin) đã đưa ra thuật ngữ “Biến đổi nhận thức – hành vi” với định nghĩa như sau:

“Biến đổi nhậnthức – hành vi  bao gồm các trị liệu cố gắng làm thay đổi hành vi đang biểu hiện công khai của bệnh nhân bằng việc thay đổi những suy nghĩ, những giải thích, những giả định và những chiến lược đáp ứng của họ”.

Liệu pháp nhận thức – hành vi và Biến đổi nhận thức – hành vi gần như giống nhau trong những giả định cơ bản và rất giống nhau trong những phương pháp điều trị. Có một chút khác nhau giữa chúng là ở kết quả điều trị:

– “Biến đổi nhận thức – hành vi”: mục tiêu thay đổi hành vi công khai đạt được là kết quả và kết thúc điều trị.

– “Liệu pháp nhận thức – hành vi”: tập trung vào tác dụng điều trị qua thực chất của sự nhận thức của bệnh nhân. Khi có nhận thức tốt chắc chắn rằng sẽ dẫn đến thay đổi hành vi.

Có thể nói, khái niệm Liệu pháp nhận thức – hành vi rộng hơn và bao hàm cả Biến đổi nhận thức – hành vi.

Các Liệu pháp nhận thức – hành vi chứa đựng ba điều cốt lõi sau:

 (1) “Hoạt động nhận thức ảnh hưởng đến hành vi”.

Lý luận này là cơ sở cho một mô hình mang tính “dàn xếp, hóa giải” cơ bản. Sự đánh giá của một người về các sự kiện có thể ảnh hưởng tới sự đáp ứng của người đó với những sự kiện đó. Vì vậy, sự thay đổi nội dung đánh giá này có ý nghĩa lớn trong lâm sàng. Muốn thay đổi đáp ứng hành vi (bất thường, không mong muốn) của người bệnh, ta có thể tác động bằng cách thay đổi sự đánh giá của người bệnh về sự kiện đang tác động đến họ.

(2) “Hoạt động nhận thức có thể được giám sát và có thể thay đổi”.

Ý nghĩa tiềm ẩn trong tuyên bố này là như sau:

Thứ nhất, “ chúng ta có thể tiếp cận hoạt động nhận thức”. Điều này muốn nói rằng, chúng ta có thể tự biết và định giá được sự nhận thức của chúng ta.

Tuy nhiên, tiếp cận hoạt động  nhận thức thường là công việc không hoàn hảo. Con người thường trình bày các hoạt động nhận thức trên cơ sở “có khả năng xảy ra” sự kiện chứ không phải trên cơ sở “thực tế” sự kiện xảy ra với họ. Dù sao, chiến lược đánh giá nhận thức là thực tế có giá trị.

Thứ hai, “sự đánh giá hoạt động nhận thức là việc mở đầu cho sự thay đổi hoạt động nhận thức”. Hầu hết những chiến lược đánh giá nhận thức nhấn mạnh vào nội dung của nhận thức và kết quả của nhận thức hơn là vào tiến trình nhận thức. Mặt khác, việc kiểm tra tiến trình nhận thức cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống nhận thức, hành vi và cảm xúc giúp chúng ta hiểu biết hơn về sự thay đổi nhận thức trong trị liệu.

(3) “Thông qua thay đổi nhận thức có thể tác động đến sự thay đổi hành vi theo mong muốn”.

Điều cốt lõi thứ ba này là kết quả trực tiếp của sự chấp nhận mô hình “dàn xếp”. Như vậy, trong khi các nhà lý luận liệu pháp nhận thức – hành vi chấp nhận rằng những sự kiện xảy ra ngẫu nhiên được củng cố công khai có thể làm thay đổi hành vi thì họ nhấn mạnh một cách chắc chắn rằng có những phương pháp khác làm thay đổi hành vi, đặc biệt đó là sự thay đổi nhận thức.

1.2. Sự cấu thành của liệu pháp nhận thức – hành vi:

Những tiếp cận nhận thức – hành vi cho rằng những tiến trình xảy ra bên trong gọi là “suy nghĩ” hoặc “nhận thức”, và các sự kiện nhận thức có thể dàn xếp sự thay đổi hành vi. Theo giả thuyết dàn xếp của nhận thức, nhận thức không chỉ là khả năng có thể thay đổi hành vi mà là nó phải làm thay đổi hành vi, do đó những thay đổi hành vi có thể được sử dụng như một bản liệt kê một cách gián tiếp về những thay đổi nhận thức.

Có ba loại liệu pháp nhận thức – hành vi chủ yếu, mỗi loại khác nhau một chút ít về những mục tiêu thay đổi. Ba loại liệu pháp đó bao gồm:

(1) Các phương pháp cơ cấu lại nhận thức (Tái cấu trúc nhận thức):

Trong những kỹ thuật tái cấu trúc nhận thức, người ta mong sẽ có hiệu quả tốt trong việc giải quyết các rối loạn sinh ra từ bên trong bản thân bệnh nhân. Thí dụ, các liệu pháp thuộc nhóm này cho rằng sự đau buồn cảm xúc là kết quả của những ý nghĩ không thích nghi. Do vậy, mục tiêu của can thiệp lâm sàng này là thiết lập các mô hình suy nghĩ thích nghi hơn.

(2) Những liệu pháp kỹ năng chống đỡ:

Những liệu pháp này tập trung vào sự phát triển các vốn liếng kỹ năng được thiết kế để trợ giúp cho thân chủ trong việc chống đỡ với các tình huống stress đa dạng. Thí dụ, giúp cho một người có thể phản ứng mạnh mẽ chống lại sự kiện bên ngoài; giúp người bệnh có thể nhận biết các cách thức nhận thức và hành vi của mình và biết thay đổi các cách thức nhận thức hành vi đó.

 (3) Những liệu pháp giải quyết vấn đề:

Những liệu pháp này là đặc trưng cho một sự kết hợp của các kỹ thuật tái cấu trúc nhận thức và các quá trình rèn luyện các kỹ năng chống đỡ. Các Liệu pháp giải quyết vấn đề nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển các chiến lược chung cho giải quyết hàng loạt rộng lớn các vấn đề cá nhân : Đó là biết thay đổi các cách thức có hại, các cách thức đó có thể làm tăng cường ảnh hưởng của các sự kiện âm tính ( thí dụ như có những ý nghĩ và hình dung khơi gợi lo âu), đồng thời biết sử dụng các chiến lược để làm giảm tác động xấu của các sự kiện âm tính. Nó cũng nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự hợp tác tích cực giữa thân chủ và nhà trị liệu trong việc đặt kế hoạch cho chương trình điều trị.

 Mặc dù Liệu pháp nhận thức – hành vi nhằm vào cả hai lĩnh vực nhận thức và hành vi làm mục tiêu thay đổi ban đầu, nhưng có một số kiểu thay đổi lại không phải là liệu pháp nhận thức – hành vi. Thí dụ, nhà trị liệu dùng nguyên lý điều kiện kinh điển để điều trị hành vi tự hủy hoại trong trẻ tự kỷ thì không phải là liệu pháp nhận thức – hành vi. Thực ra, đó chính là Liệu pháp hành vi. Và thực tế, bất kỳ chế độ điều trị nào chấp nhận mô hình kích thích – đáp ứng đều không phải là Liệu pháp nhận thức – hành vi.

Chỉ khi nào chứng minh được có sự dàn xếp, hóa giải của nhận thức, và chỉ khi nào mà sự dàn xếp của nhận thức là một thành phần quan trọng của kế hoạch trị liệu thì mới được gọi là Liệu pháp nhận thức – hành vi. Như vậy, Liệu pháp hành vi thật nghiêm ngặt hoặc Liệu pháp nhận thức thật nghiêm ngặt đều  không phải là Liệu pháp nhận thức – hành vi.

1.3.Những Liệu pháp nhận thức – hành vi  hiện hành:

Các liệu pháp nhận thức – hành vi là một sự lai ghép về các chiến lược hành vi và tiến trình nhận thức với mục tiêu là thành công trong sự thay đổi nhận thức và hành vi. Do vậy, Liệu pháp nhận thức – hành vi thể hiện một sự đa dạng của những nguyên lý và những qui trình trị liệu.

Sự đa dạng hóa trong phát triển và thực hành các tiếp cân nhận thức – hành vi, một phần có thể được giải thích là do những định hướng lý thuyết khác nhau của những người sáng lập ra các chiến lược can thiệp dựa trên phối cảnh nhận thức – hành vi này. Thí dụ:

Ellis và Beck là những người sáng lập ra Liệu pháp hành vi cảm xúc thuần lý và Liệu pháp nhận thức nhưng thực ra các vị đã đến từ nền tảng của Phân tích tâm lý của Freud.

Goldfried, Meichenbaum và Mahoney được đào tạo nguyên gốc từ những nguyên lý của Biến đổi hành vi.

Những Liệu pháp nhận thức – hành vi hiện hành phát triển theo thời gian bao gồm:

– Liệu pháp Hành vi Cảm xúc Thuần lý (Rational Emotive Behavior Therapy).

– Liệu pháp Nhận thức (Cognitive Therapy).

– Rèn luyện Tự hướng dẫn (Self-Instructional Training).

– Tái cấu trúc Thuần lý có Hệ thống (Systematic Rational Restructuring).

– Rèn luyện Quản lý Lo âu (Anxiety Management Training).

– Rèn luyện Phòng Stress (Stress Inoculation Training).

– Liệu pháp Giải quyết Vấn đề (Problem – Solving Therapy).

– Liệu pháp Tự kiểm soát (Self-Control Therapy).

– Liệu pháp tâm lý Cấu trúc và theo xu hướng Tạo dựng (Structural and Constructivist Psychotherapy).

Trong những Liệu pháp nhận thức – hành vi nêu trên, cần nghiên cứu những lý luận cơ bản của hai liệu pháp được ứng dụng nhiều là Liệu pháp hành vi cảm xúc thuần lý và Liệu pháp nhận thức.

PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ

Thí điểm bổ sung chức năng, nhiệm vụ điều trị nghiện ma túy tự nguyện

Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội số IV Hà Nội và Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội số VI Hà Nội trực thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội sẽ được thí điểm bổ sung chức năng, nhiệm vụ điều trị nghiện ma túy tự nguyện.

Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người nghiện ma túy
Theo UBND thành phố Hà Nội, hai trung tâm này được bổ sung thêm chức năng chữa trị, tổ chức giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp cho các đối tượng nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS và điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Đối tượng phục vụ của Trung tâm là các đối tượng nghiện ma túy có nhu cầu được tự nguyện cai nghiện.

Trung tâm có nhiệm vụ tiếp nhận, phân loại, tổ chức chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, chăm sóc, quản lý, tư vấn cho các đối tượng nghiện ma túy, bị nhiễm HIV/AIDS theo quy trình quy định; Tổ chức, cung cấp dịch vụ tư vấn, khám và điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone; Tổ chức cho các đối tượng lao động trị liệu, lao động sản xuất hướng nghiệp.

Bên cạnh đó, trung tâm liên kết với các cơ sở dạy nghề ở địa phương tổ chức dạy nghề phù hợp với điều kiện của Trung tâm và trình độ của từng đối tượng; Tổ chức giáo dục pháp luật, đạo đức rèn luyện thể chất, phục hồi hành vi nhân cách, thể dục thể thao, dạy văn hóa cho các đối tượng; Hướng dẫn, tư vấn cho đối tượng, gia đình về cai nghiện, chữa trị, quản lý, giáo dục người nghiện ma túy…
Thúy Vân

Trùm bán danh sách gái gọi thu bạc triệu mỗi ngày

Hiện tại có hàng loạt trang web cung ứng dịch vụ gái gọi một cách công khai. Cùng đó là những kẻ ẩn mình trên mạng ảo để chăn dắt mại dâm và bán danh sách gái gọi, kiếm bạc triệu mỗi ngày.
Từng là thành viên quản trị của trang mạng danchoi…Thành cho biết: khi trang moxi… được coi là web sex lớn nhất nhì Việt Nam bị đánh sập thì những trang web tương tự không dám ngọ ngậy. Tuy nhiên gần đây, xuất hiện hàng loạt web đen đình đám như: danchoi.x…, danchoi.o…, gaidepgaixinh…callgirl…, banhmy…

Thành khẳng định: “Các trang này web này được điều hành bởi những nhóm quản trị chuyên nghiệp; máy chủ đặt ở nước ngoài, nên rất khó để đánh sập”. Những trang này, đều chia sẻ về những thông tin cá nhân, hình ảnh của những cô gái hành nghề…mại dâm. Có cô gái đăng hình ảnh được che mặt, nhưng có cô thì không…

Trang banhmy…quảng bá trên giao diện trang chủ là “hệ thống gái gọi lớn nhất thế giới, giá rẻ nhất, hỗ trợ khách hàng 24/7”.

Thực tế danh sách gái gọi của nhiều trang web đen hiện nay na ná giống nhau. Những người từng quản trị các trang web đen chia sẻ, ban đầu các thành viên ban quản trị tập hợp số điện thoại gái gọi bằng hình thức mở các diễn đàn, để các thành viên, là dân chơi tham gia viết bài, chia sẻ hình ảnh, thông tin về gái gọi mà mình từng…vui vẻ.

Qua thời gian, ban quản trị hoặc thành viên tích luỹ, tập hợp thành cái gọi là “danh sách gái gọi”. Khi các trang web lớn mạnh, ban quản trị bắt đầu sử dụng danh sách đó để kiếm tiền.

Ngoài ra các thành viên quản trị diễn đàn còn lôi kéo các cô gái làm nghề massage hay mại dâm truyền thống, trở thành “gà” của mình quản lý. Với cách này, các cô gái mại dâm hành nghề tinh vi, an toàn và được đảm bảo lượng khách đông đảo hơn.

Tú ông, tú bà ảo ngồi mát kiếm bạc triệu mỗi ngày
Chỉ tốn 50 ngàn đồng dưới dạng thẻ cào điện thoại gửi qua nick name đã được đăng kí, ‘tú ông’ ảo khi đó mới trò chuyện, cung cấp số điện thoại và pass (dạng quy ước khi liên lạc để gái gọi đồng ý đi khách) của một gái gọi.

Thành viên ban quản trị trang mạng banhmy, cho biết, trang của của mình cung cấp “hàng” ở bất kỳ địa phương nào, sẵn sàng đáp ứng khách hàng khó tính nhất…

Theo Thành, nghề bán danh sách gái gọi là phần kiếm thêm của các tú ông, tú bà ảo, phần thu nhập chính vẫn là nghề chăn dắt.

Theo đó, quản trị các web đen tiếp cận với nhiều cô gái mại dâm, thuyết phục họ “quảng cáo” để tìm khách. Thậm chí các trang web đen còn tổ chức cho “nhiếp ảnh gia” chụp ảnh gái bán dâm trong tư thế mát mẻ tại khách sạn, sau đó đưa lên mạng để quảng bá. Mỗi khi đăng hình giới thiệu, các cô gái phải chi tiền từ 700 ngàn – 1 triệu đồng/lần.

Sau đó quản lý web tự đưa ra mức giá đi khách của các cô gái ít nhất là 500 ngàn đồng, hoa hồng 100 ngàn đồng/lần.

Ít có cô gái nào dám làm ăn gian dối, “ém” tiền hoa hồng vì nếu bị phát hiện thì sẽ bị trừng phạt bằng cách tháo loạt ảnh “chào hàng” trên trang web, bị…treo nghề. Chưa hết, các cô gái này còn bị bêu riếu trên các trang web về việc mắc bệnh, lừa đảo, .. khiến các cô hết đường hành nghề.

Với chiêu trò chăn dắt chân dài một cách kín đáo; đồng thời bán danh sách gái gọi cho khách làng chơi, đã “ngồi mát xơi bát vàng”, kiếm bạc triệu mỗi ngày.

Lãnh đạo Cục cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) Bộ công an cho biết: “Hiện các đường dây mại dâm qua mạng Internet nay khá phổ biến. Việc điều tra về các đường dây này gặp khó khăn do chúng náu thân trên mạng ảo rất tinh vi, có trình độ công nghệ thông tin nhất định khi đối phó với cơ quan chức năng. Chúng điều khiển, quản lý gái mại dâm thông qua điện thoại, qua mạng Internet; thậm chí thu tiền công hoa hồng môi giới qua hoạt động chuyển khoản ngân hàng.

Sắp tới chúng tôi sẽ đặc biệt lưu ý đến các đường dây môi giới mại dâm cao cấp trên mạng Internet”.

Theo Vietnamnet