TÁC HẠI CỦA MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG KÍCH THÍCH – COCAINE

TÁC HẠI CỦA MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG KÍCH THÍCH – COCAINE

Cocaine là một trong những chất gây nghiện bị lạm dụng phổ biến và nguy hiểm nhất ở các nước châu Mỹ và châu Âu. Ở Việt Nam hiện chưa phát hiện tình trạng buôn bán, lạm dụng cocaine, có thể do cocaine chưa thâm nhập vào thị trường Việt Nam vì lý do nào đó. Cocaine thường bị lạm dụng ở chế phẩm mạnh nhất của nó, freebase và crack (crack cocaine). Cocaine được chiết xuất từ cây coca có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ở đó các cư dân đại phương thường nhai các lá và cành nhỏ để có được hiệu quả kích thích. Các alkaloid cocaine được chiết xuất đầu tiên vào năm 1860 và được sử dụng trong y học như là một chất gây tê cục bộ, chủ yếu trong phẩu thuật mắt, mũi và họng vì nó giúp gây tác dụng co mạch. Năm 1884 Sigmund Freud đã tiến hành nghiên cứu tác dụng dược lý chung của cocaine và coi nhó như một loại thuốc chông trầm cảm. Từ 1880-1890, cocaine được biết đến như loại thuốc chữa khỏi nhiều bệnh. Tuy nhiên vào năm 1914 cocaine đã được xếp vào loại các chất gây nghiện tiếp theo morphine và heroin, vì tác dụng gây hại và gây nghiện của nó.

A. Dịch tễ học

Ở Mỹ, khoảng 1,9 triệu người Mỹ, bao gồm 1,9% học sinh trung học phổ thông đã sử dụng cocaine trong tháng qua, tuy nhiên sử dụng cocaine hiện nay có chiều hướng thuyên giảm do nhận thức về nguy cơ liên quan đến sử dụng cocaine trong dân chúng tăng lên qua các chiến dịch truyền thông về cocaine và tác hại của nó. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây ở một mức độ nào đó lại gia tăng hiện tượng sử dụng crack, một dạng mạnh hơn cocaine rất nhiều. Sử dụng Crack phổ biến nhất ở lứa tuổi 18-25, do giá rẻ hơn cocaine 10 lần.

Ở Mỹ, năm 1991 có khoảng 12% dân số Mỹ đã sử dụng cocaine ít nhất 1 lần và 1,9% đã sử dụng crack ít nhất một lần, 0,5% đã sử dụng crack trong năm qua, 0,2% đã sử dụng crack trong tháng qua. Lứa tuổi sử dụng nhiều nhất từ 18-25 tuổi (18% đã sử dụng cocaine ít nhất 1 lần và 2% vẫn đang sử dụng cocaine; 3,8% đã sử dụng crack ít nhất một lần). Mặc dù sử dụng cocaine có tỷ lệ cao nhất ở nhóm người không có việc làm nhưng nó cũng được sử dụng ở nhóm người có học vấn và kinh tế xã hội cao. Tỉ lệ nam giới sử dụng cocaine cao hơn 2 lần so với nữ giới (NIDA, 1991).

Ở Pháp, tỉ lệ sử dụng cocaine ở lứa tuối 18-75 là 2% (EROPP 2002); ở lứa tưởi 17-18 là 2,3%, và sử dụng trong tháng qua là 0,9%. Tỉ lệ sử dụng crack ở lứa tuổi 17-18 là 0,9%, và sử dụng trong tháng qua là 0,3% (ESCAPAD 2003, OFDT).

B. Đặc điểm dược lý

Cocaine nhanh chóng được hấp thu và chuyển hóa bởi esterase huyêt thanh và ở gan. Thời gian kích thích của nó ngắn, từ 3-45 phút, phụ thuộc vào liều lượng và đường sử dụng.

Hệu quả dược động học đầu tiên của cocaine (liên quan tới hiệu quả trên hành vi của thuốc) do phong tỏa cạnh tranh việc thu hồi dopamine bởi hệ thống vận chuyển dopamine. Việc phong tỏa thu hồi dopamine làm tăng độ tập trung dopamine ở synapse và dẫn tới tăng hoạt tính của receptor D1 và D2, ngoài ra cocaine cũng gây ra ức chế thu hồi catecolamine, norepinephrine và serotonin. Hiệu quả trên hành vi thông qua hoạt tính này, gây tăng cường sự chú ý. Cocaine làm giảm lưu lượng máu não và sử dụng glucose ở não. Hiệu quả trên hành vi của cocaine hầu như ngay lập tức và kéo dài khoảng 30-60 phút, vì vây jcaanf thiết phải sử dụng lặp lại để duy trì hiệu quả nhiễm độc. Mặc dù hiệu quả của cocaine trên hành vi thì ngắn những chất chuyển hóa của nó có thể tồn tại trong máu và nước tiểu tới 10 ngày.

Cocaine là một chất gây nghiện mạnh, sự phụ thuộc về tâm thần có thể xảy ra sau 1 lần sử dụng bởi vì hiệu quả mạnh của nó có tác dụng củng cố dương tính trên hành vi. Khi sử dụng lặp lại, sự dung nạp và sự nhạy cảm tăng lên, mặc dù sự dung nạp và nhạy cảm hiển nhiên do nhiều yếu tố và không dễ dàng đoán trước. Có sự phụ thuộc về cơ thể, tuy nhiên hội chứng cai của cocaine nhẹ hơn so với hội chứng cai của các chất dạng thuốc phiện.

C. Biểu hiện lâm sàng

Cocaine thường được sử dụng qua đường hít trực tiếp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm kết hợp với hút. Hít cocaine ít nguy hiểm hơn tiêm chích và hút cocaine. Mặc dù cocaine có thể được dùng qua đường uống những nó ít hiệu quả hơn các đường khác.

Crack là một chất cực kỳ mạnh, là chất tinh chế của cocaine. Nó được bán số lượng nhỏ và sẵn sàng để hút (thường được gọi là rock). Crack gât nghiện rất mạnh, thậm chí chỉ với 1 hoặc 2 lần sử dụng là đã gây thèm muốn mãnh liệt nên người nghiện thường sử dụng bạo lực để có tiền mua crack hút.

Biểu hiện lâm sàng có nhiều loại khác nhau (tham khảo trong phần tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cocaine ở mục sau).

Các tác hại

Tác hại phổ biến do sử dụng cocaine đường mũi (hít trực tiếp) làm xung huyết niêm mạc mũi, cũng có thể viêm tấy nghiêm trọng, căng phồng lên, chảy máu, và loét niêm mạc mũi. Sử dụng lây ngày cocaine cũng có thể dẫn đến loét sâu do nhiễm khuẩn mũi. Việc sử dụng free-base (tên đường phố của cocaine chuyển từ dạng muối sang báe) và crack có thể gây tổn thương nghiêm trọng phế quản và phổi. Tiêm tĩnh mạch cocaine thường kết hợp với nhiễm khuẩn, tắc mạch, lây truyển viêm gan B, C và HIV. Các biến chứng thần kinh nhẹ như loạn trương lực cơ, tic và đau đầu kiểu migraine. Tuy nhiên biến chứng nặng do sử dụng cocaine là tác dộng trên mạch máu não, động kinh, tim mạch.

– Các tác dụng trên mạch máu não: bệnh mạch máu não phổ biến liên quan tới sử dụng cocaine là nhồi máu não không xuất huyết. Khi có nhồi máu não xuất huyết xảy ra, chúng có thể bao gồm xuất huyết dưới nhện, xuất huyết não, xuất huyết não thất. Có các cơn thiếu máu tạm thời thường kết hợp với sử dụng cocaine. Tất cả những rối loạn mạch não nêu trên thường liên quan tới tác động gây co mạch của cocaine.

– Các cơn co giật: gặp khoảng 3-8% trường hợp cấp cứu do cocaine ở các phòng cấp cứu. Cocaine là chất gây nghiện thường gây ra cơn co giật nhiều nhất, tiếp theo đó là amphetamine. Cơn co giật cocaine có nguy cơ cao hơn ở những người cơ tiền sử động kinh, sử dụng liều cao cocaine, sử dụng crack.

– Các tác dụng trên tim mạch: nhồi máu cơ tim và ngoại tâm thu thất có thể là những bất thường về tim mạch thường gặp nhất do cocaine. Các bệnh cơ tim có thể xảy ra do sử dụng kéo dài cocaine. Nhồi máu não, nhồi máu tim có thể là những biến chứng gia tăng của rối loạn chức năng tim mạch do cocaine.

– Tử vong: sử dụng liều cao cocaine kết hợp với cơn co giật, suy hô hấp, bệnh mạch máu não và nhồi máu cơ tim, tất cả biên chứng vừa nêu trên có thể dẫn tới tử vong ở những người sử dụng cocaine. Những người sử dụng cocaine có thể có các dấu hiệu cảnh báo như ngất xỉu hoặc đau thắt ngực nhưng cũng có thể họ không để ý đến các dấu hiệu này bởi vì họ không thể kìm chế được thèm muốn sử dụng cocaine. Tử vong cũng có thể do sử dụng kết hợp các chất dạng thuốc phiện với cocaine.

D. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện và lạm dụng cocaine

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán chung ở phần trước (DSM IV).

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cocaine

a. Vừa mới sử dụng cocaine.

b. Thay đổi hành vi hoặc tâm lý không thích hợp, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng cocaine (ví dụ khoái cảm hoặc cảm xúc cùn mòn; thay đổi sự hòa đồng, tăng tỉnh táo; tăng nhạy cảm trong quan hệ; lo âu; căng thẳng hoặc cáu giận; hành vi vô nghĩa; giảm sút lý lẽ hoặc giảm sút các chức năng xã hội nghề nghiệp).

c. Có ít nhất 2 trong số các triệu chứng sau, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng cocaine:

(1) Nhịp tim tăng nhanh hoặc chậm.

(2) Giãn đồng tử.

(3) Tăng hoặc giảm huyết áp.

(4) Vã mồ hôi hoặc giảm cảm giác lạnh.

(5) Buồn nôn hoặc nôn.

(6) Sút cân rõ rệt.

(7) Kích động tâm thần vận động hoặc chậm chạp.

(8) Yếu cơ, suy hô hấp, đau ngực, hoặc mất nhịp tim.

(9) Lú lẫn, co giật, loạn động, loạn trương lực cơ hoặc hôn mê.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác gây ra.

Đặc trưng nếu kèm theo rồi loạn nhận thức.

3. Tiêu chuẩn chẩn đôán hội chứng cai cocaine

a. Ngừng hoặc giảm mạnh sử dụng cocaine hoặc giảm sử dụng kéo dài

b. Loạn cảm xúc và có ít nhất 2 sự thay đổi tâm lý sau đây, xuất hiện từ vài giờ tới vài ngày theo tiêu chuẩn

(1) Mệt mỏi.

(2) Ác mộng.

(3) Mất ngủ hoặc ngủ nhiều.

(4) Tăng khẩu vị.

(5) Kích động hoặc tâm thần vận động chậm.

c. Triệu chứng ở tiêu chuẩn b gây ra buồn phiền hoặc giảm sút rõ rệt các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các chức năng quan trọng khác.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác gây ra.

4. Các rối loạn loạn thần liên quan tới cocaine

Hoang tưởng paranoid và ảo thanh có thể xảy ra ở 50% những người sử dụng cocaine. Việc xuất hiện các triệu chứng này phụ thuộc vào liều sử dụng, thời gian sử dụng và tính mẫn cảm của mỗi cá nhân đối với cocaine. Các rối loạn loạn thần do cocaine thường phổ biến ở những người tiêm tĩnh mạch cocaine và sử dụng crack. Nam giới thường bị nhiều hơn nữ giới. Thường gặp hoang tưởng paranoid và ảo thanh, còn ảo giác xúc giác và ảo thị ít gặp hơn.

5. Rối loạn cảm xúc liên quan tới cocaine

Rối loạn cảm xúc liên quan tới cocaine có thể khởi phát trong giai đoạn nhiễm độc hoặc cai cocaine. Thường gặp hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm trong giai đoạn nhiễm độc cocaine, còn trầm cảm thường gặp trong giai đoạn cai cocaine.

6. Rối loạn lo âu liên quan tới cocaine

Các rối loạn hoảng sợ, lo sợ ám ảnh và ám ảnh cưỡng bức thường gặp trong giai đoạn nhiễm độc hoặc cai cocaine.

7. Rối loạn chức năng tình dục liên quan đến cocaine

Rối loạn chức năng tình dục có thể bắt đầu khi bị nhiễm độc cocaine. Mặc dù cocaine được sử dụng như một thuốc kích dục và như một cách để làm chậm khoái cảm, nhưng việc sử dụng lặp lại chúng có thể gây ra bất lực.

8. Rối loạn giấc ngủ liên quan tới cocaine

Rối loạn giấc ngủ có thể xảy ra trong khi bị nhiễm độc (mất ngủ) hoặc hội chứng cai cocaine (ngủ nhiều).

SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

trangtamly.wordpress.com

SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) trong điều trị nghiện là một dạng phương pháp trị liệu thông qua trò chuyện, dựa trên các nguyên tắc tâm lý học hành vi và các học thuyết về nhận thức. Thuyết hành vi tập trung vào các hành vi hay hành động do một người thực hiện. Học thuyết về nhận thức thì tập trung vào tri giác của con người – những thứ ta nhìn, nghe, cảm nhận, những suy nghĩ và cảm xúc.

Cognitive Behavioral Therapy for addiction, also known as Cognitive Behavior Therapy or CBT for short, is a type of “talk” therapy, based on the psychological principles of behaviorism and theories of cognition. Behaviorism focuses on the behaviors or actions a person takes, whereas theories of cognition focus on people’s perceptions — what they see, hear, and feel, their thoughts, and their emotions.

cbtblue-new

 

Nguồn: Central London

 

CBT là một biến thể của liệu pháp hành vi, tập trung vào việc thay đổi hành vi thông qua các tác nhân củng cố tích cực – tiêu cực, thưởng – phạt áp dụng lên các hành vi mà người đó muốn tăng cường hay giảm thiểu.

CBT is a variation of behavior therapy, which focuses on changing behavior through pairing positive and negative reinforcement, or rewards and punishments, with behaviors that the person wants to increase or decrease.

Các trải nghiệm của con người về mặt nhận thức bao gồm tri giác, suy nghĩ, cảm xúc và sự thấu hiểu. Việc thêm phân tích nhận thức vào liệu pháp hành vi dẫn tới sự hình thành của CBT, tức là ta sẽ xem xét cả những suy nghĩ và cảm nhận của con người về hành vi của họ. CBT đặc biệt khai phá các xung đột giữa cái ta muốn làm và cái ta thực sự làm.

The human experience of cognition includes our perceptions, thoughts, emotions and understanding. Adding analysis of cognition to behavior therapy led to the development of cognitive behavioral therapy by taking into account people’s thoughts and feelings about their behaviors. CBT particularly explores the conflicts between what we want to do and what we actually do.

CBT trong điều trị nghiện. Cognitive Behavioral Therapy for Addiction

Nghiện là một ví dụ điển hình về một dạng hành vi đi ngược lại với cái mà người ta muốn làm. Những người đang vượt qua căn bệnh này thường nói rằng họ muốn thay đổi những hành vi đó và có thể họ thực sự muốn ngưng sử dụng rượu, ma túy hoặc chấm dứt các hành vi mang tính ép buộc sử dụng các chất này, gây ra các vấn đề cho cuộc sống của họ. Tuy nhiên, những người này cũng thừa nhận thực hiện được những điều này là cực kỳ khăn.

Addiction is a clear example of a pattern of behavior which goes against what the person experiencing it wants to do. While people trying to overcome addictive behaviors will often say they want to change those  behaviors, and may genuinely want to quit alcohol, drugs, or other compulsive behaviors that are causing them problems, they find it extremely difficult to do so.

Ở CBT, các hành vi nghiện, như uống rượu bia, sử dụng ma túy, bài bạc, mua sắm không kiểm soát, nghiện game, nghiện ăn và các loại hành vi vượt mức khác là kết quả của các suy nghĩ lệch lạc và các cảm xúc tiêu cực kèm theo khác.

According to the cognitive behavioral therapy approach, addictive behaviors, such as drinking, drug use, problem gambling, compulsive shopping, video game addiction, food addiction, and other types of harmful excessive behavior, are the result of inaccurate thoughts and subsequent negative feelings.

CBT giải thích điều này bằng cách điều chỉnh mối tương tác giữa những suy nghĩ và cảm xúc của người bệnh. Các nhà tâm lý học nhận ra rằng rất nhiều người có những suy nghĩ dựa trên các niềm tin sai lệch, phi thực tế hoặc bất khả thi và những suy nghĩ này lần lượt sẽ gây ra các cảm xúc tiêu cực dọn đường cho lo âu, trầm cảm và các bệnh lý như nghiện. Bằng cách ghi nhận một cách có hệ thống các suy nghĩ và các cảm xúc, các sự kiện khiến ta nhớ đến chúng, và kết quả hành vi của các suy nghĩ và cảm xúc này, ta có thể bắt đầu thay đổi các quá trình phá hoại nỗ lực thay đổi hành vi của chúng ta.

Cognitive behavioral therapy explains this by clarifying the way that people’s thoughts and emotions interact. Psychologists realized that many of us have thoughts, based on beliefs that are untrue, unrealistic, or impossible to live up to, and these thoughts, in turn, cause negative feelings which feed anxiety, depression and conditions like addiction. By systematically recording our thoughts and associated feelings, along with the events that trigger those thoughts and feelings, and the behavior that we carry out as a result, we can begin to change the automatic processes that sabotage our efforts at changing our behaviors.

Bằng cách xem xét các kiểu suy nghĩ và cảm xúc thường gặp, ta có thể bắt đầu thay đổi suy nghĩ bằng cách chủ động xem xét hoàn cảnh một cách thực tế hơn, tránh dẫn đến các cảm xúc tiêu cực và chu kỳ lặp đi lặp lại của các hành vi có hại. Áp dụng các phần thưởng cho mỗi hành vi tốt sẽ giúp ta dần dần thay thế các hành vi đó, các hành vi tốt sẽ liên kết tạo ra các cảm xúc tích cực, và rồi mọi thức sẽ tự động diễn ra theo chiều hướng tốt hơn.

By looking at patterns of thoughts and feelings that we repeatedly experience, we can begin to change those thoughts by consciously looking at situations in more realistic ways, that do not automatically lead to negative emotions and resulting cycles of harmful behaviors. By rewarding ourselves for the healthier behaviors we replace those harmful behaviors with, over time, the healthier behaviors become associated with more positive emotions, and become more automatic.

CBT có khả năng theo dõi hành vi rất tốt, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính hiệu quả của nó trong việc điều trị trầm cảm, lo âu và các bệnh lý khác, bao gồm cả nghiện.

CBT has an excellent track record, with numerous studies demonstrating its effectiveness in treating depression, anxiety and other conditions, including addiction.

CBT trở nên phổ biến cho đến cuối thế kỷ XX, sau đó liệu pháp này được định hình lại và thay thế bởi các liệu pháp hành vi “làn sóng thứ ba”, tập trung nhiều hơn vào chánh niệm, học cách chấp nhận và sống cho thực tại. Một số liệu pháp có thể liệt kê ở đây là Liệu pháp Tiếp nhận và Cam kết (ACT), Liệu pháp Hành vi Biện chứng (DBT), Liệu pháp Nhận thức dựa trên Chánh niệm và Liệu pháp tâm lý Phân tích Chức năng.

The CBT approaches that became popularized towards the end of the 20th century are themselves being refined and replaced by so-called “third wave” of behavior therapy, which focus on mindfulness, acceptance and being in the moment. These approaches include Acceptance and Commitment Therapy (ACT), Dialectical Behavioral Therapy (DBT), Mindfulness-Based Cognitive Therapy, and Functional Analytic Psychotherapy.

Nguồn: https://www.verywell.com/cognitive-behavioral-therapy-for-addiction-21953

Như Trang.

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

pcmt.ubdt.gov.vn

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác. Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình và không muốn phát huy khả năng.

 

Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức). “Chất lượng” của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.

 

Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài. Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi.



Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC. Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence).



Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp.



Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, những nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF. Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu lô gích (disputing intervention), E là tác động (effect), và F- là những cảm xúc mới (new feelings).



Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance). Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế.



Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác….Ellis đã tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều đó.



Những người tham gia trị liệu bằng nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm. Tuy nhiên, thời gian tham gia trị liệu theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)



Áp dụng trong việc hỗ trợ người nghiện rượu, ma túy



Từ khi ra đời đến nay, liệu pháp nhận thức hành vi đã được áp dụng rất nhiều trong việc hỗ trợ những người bị rối loạn cảm xúc (trầm cảm, sợ hãi, tức giận), những người gặp khó khăn trong mối quan hệ với người khác, và đặc biệt có hiệu quả với những người nghiện chất (rượu, ma túy).



Với những người sử dụng chất gây nghiện lần đầu hoặc sử dụng không thường xuyên, khi bị cảnh sát bắt giữ, thay cho việc gửi những người này vào nơi điều trị nghiện hoặc nhà tù, họ được chuyển đến một nơi có tên gọi là “chuyển làn”, đây chính là một chương trình giáo dục giúp thay đổi suy nghĩ và hành vi trong một thời gian nhất định.



Trong thời gian đó, sự hỗ trợ của các nhà giáo dục, tư vấn…giúp cho người sử dụng chất gây nghiện chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống cá nhân, lý do của việc sử dụng chất gây nghiện, mối quan hệ với những người xung quanh, và tất nhiên, cả những “kiểu suy nghĩ” đặc trưng của mỗi người.



Những người sử dụng chất gây nghiện trong giai đoạn này được coi như “khách hàng”, một người được đi đào tạo và nhiệm vụ của họ là hợp tác, tuân thủ chương trình đào tạo dành cho mình. Thời gian tham gia chương trình này sẽ do bản thân người sử dụng chất gây nghiện và cán bộ tư vấn, trị liệu xác định, nhưng thường kéo dài từ 1-3 tháng.



Đối với những người nghiện được đưa vào các cơ sở điều trị hoặc vào tù, để giúp cho họ thích nghi với cuộc sống bên ngoài sau thời gian cai nghiện hoặc hết hạn tù, họ được tham gia một một chương trình miễn phí gọi là Chuẩn bị hòa nhập. Lúc này liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ tích cực giúp cho những người tham gia hiểu về bản thân nhiều hơn, chuẩn bị ứng phó với những thay đổi mới

 

Việc áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi cho những người nghiện chất trong chương trình này không chỉ được điều trị về việc nghiện chất, mà còn tạo điều kiện để những người nghiện “tự giáo dục các suy nghĩ”, học cách tập trung thay đổi suy nghĩ của bản thân, tập trung vào những vấn đề cần giải quyết trong cuộc sống thay cho những suy nghĩ tiêu cực, tự đổ lỗi, mong muốn trả thù…



Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện con số người nghiện ma túy được quản lý ở Việt Nam vào khoảng 180.000 người, chưa kể những người mới sử dụng. Với nhiều thay đổi về mặt quan điểm, chính sách đối với người nghiện chất nói chung và người sử dụng ma túy nói riêng, chúng ta đang trên con đường chuyển đổi từ việc đưa người sử dụng ma túy vào trại tập trung sang hình thức cai nghiện tự nguyện dựa vào cộng đồng với nhiều chương trình điều trị phù hợp.



Để việc điều trị cho người nghiện chất được hiệu quả hơn, cũng như việc áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau trong hỗ trợ người nghiện trong tương lai ở Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện để quá trình đào tạo, trị liệu, giáo dục được lồng nghép trong tất cả các bước hỗ trợ người cai nghiện chất, tập trung vào các chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao cho những nhà tư vấn, trị liệu, khuyến khích những mô hình thử nghiệm hỗ trợ người nghiện và tạo điều kiện cho các tổ chức chuyên môn cùng tham gia.



Điển hình, từ năm 2009-2012, trong khuôn khổ của một cấu phần dự án HIV/AIDS nơi làm việc mang tên Chuẩn bị trước khi đi làm, dành cho những nhóm dễ bị tổn thương trong đó có người đã từng sử dụng ma túy, những tư vấn viên việc làm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển Cộng đồng (SCDI) đã thử nghiệm đưa những kỹ thuật liệu pháp nhận thức hành vi trong quá trình đào tạo và tư vấn.



Trong quá trình đào tạo về nhận thức bản thân, tư vấn viên đã lựa chọn những suy nghĩ phổ biến và gây ra những cảm xúc tiêu cực cho người sử dụng ma túy như: Sử dụng ma túy là một điều xấu xa, người nghiện ma túy là những người không tốt, Những người sử dụng ma túy rất khó tìm kiếm việc làm…để cùng những người dùng ma túy thực hành cách thay thế những suy nghĩ có ích hơn.



Những người sử dụng ma túy đã chia sẻ những cảm giác bất lực, xấu hổ, mất hy vọng, thiếu tự tin, tự đổ lỗi cho bản thân…. khi để những suy nghĩ trên “ám ảnh trong đầu”. Người hướng dẫn và các bạn đồng đẳng đã giúp họ thay thế suy nghĩ bằng cách: Dừng suy nghĩ (trong những trường hợp những suy nghĩ tiêu cực trên quá ảm ảnh quá nặng) hoặc thay thế suy nghĩ (ví dụ, sử dụng ma túy là một điều không tốt cho sức khỏe, nhưng điều đó không có nghĩa những người sử dụng ma túy là người không tốt; mọi người thường nghĩ những người sử dụng ma túy rất khó kiếm việc làm, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm được việc làm)…



Sau khi được tham gia thực hành bài tập, những người sử dụng ma túy đều chia sẻ một tâm trạng thoái mái, dễ chịu và cởi mở hơn khi nói về vấn đề của mình. Việc tích cực hơn. Tuy nhiên, đây là một hoạt động mang tính lồng nghép và thử nghiệm nên không có điều kiện để áp dụng cho nhiều người và chỉ giới hạn trong khoảng thời gian nhất định.

 

Mai Thị Việt Thắng

Nguồn tiengchuong.vn

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY HIỆN NAY

neove.org.vn

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY HIỆN NAY

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghiện ma túy là căn bệnh mạn tính của não bộ, khó điều trị và dễ tái phát. Chính vì vậy, điều trị nghiện ma túy cần thực hiện một số bước sau:

  • Giải độc (quá trình mà cơ thể ngừng dung nạp một chất ma túy vào cơ thể)
  • Sử dụng thuốc cai nghiện (đối với thuốc phiện, thuốc lá hoặc nghiện rượu);
  • Đánh giá và điều trị  các vấn đề sức khỏe tâm thần xảy ra: rối nhiễu tâm lý như trầm cảm và lo âu ở người sử dụng ma túy;
  • Can thiệp về nhận thức – hành vi;
  • Theo dõi dài hạn để ngăn ngừa tái phát.

Trong quá trình điều trị cần có một loạt các dịch vụ chăm sóc với một chương trình điều trị phù hợp và theo dõi diễn biến rất quan trọng để thành công. Điều trị bao gồm cả các dịch vụ sức khỏe y tế và tinh thần khi cần thiết. Theo dõi chăm sóc có thể bao gồm các hệ thống hỗ trợ phục hồi cộng đồng hoặc tại gia đình.

 

 

Can thiệp nhận thức – hành vi chính là hỗ trợ, giúp đỡ bệnh nhân – người sử dụng ma túy nhận ra:

  • Thái độ và hành vi liên quan đến việc sử dụng ma túy của bản thân;
  • Nâng cao kỹ năng sống lành mạnh và tích cực hơn;
  • Sử dụng một số loại thuốc hỗ trợ cho công tác điều trị nghiện ma túy.

Bệnh nhân có thể điều trị ở các môi trường khác nhau:

1.      Điều trị ngoại trú:

Điều trị ngoại trú là hình thức điều trị bao gồm một loạt các chương trình dành cho những bệnh nhân được nhân viên tư vấn sức khỏe hành vi quản lý, theo dõi và hỗ trợ trong một kế hoạch cụ thể và trình thường xuyên. Hầu hết các chương trình liên quan đến tư vấn thuốc cá nhân hoặc nhóm, hoặc cả hai. Các chương trình này thường cung cấp các hình thức trị liệu hành vi như:

Liệu pháp nhận thức hành vi,  giúp bệnh nhân nhận biết, tránh và đối phó với những tình huống mà ở đó họ có nhiều khả năng sử dụng ma túy;

Liệu pháp gia đình đa chiều – được phát triển dành cho thanh thiếu niên với vấn đề lạm dụng ma túy cũng như những gia đình chịu ảnh hưởng bởi người thân là người sử sụng ma túy và được thiết kế để cải thiện chức năng của gia đình một cách toàn diện để hỗ trợ tốt nhất cho người thân của mình;

Phỏng vấn động lực, tác động làm cho hầu hết người bệnh, người sử dụng ma túy sẵn sàng thay đổi hành vi của họ và tham gia điều trị;

Khuyến khích động lực (quản lý dự phòng), trong đó tăng cường tích cực và khuyến khích từ bỏ ma túy cũng như các chất gây nghiện khác.

Điều trị đôi khi cần chuyên sâu ở lần điều trị đầu tiên, sau đó các bệnh nhân tham gia điều trị ngoại trí mỗi tuần theo lịch đã được sắp xếp. Sau khi hoàn thành điều trị có hiệu quả tích cực, bệnh nhân chuyển sang điều trị ngoại trú thường xuyên, sau đó, dần dần ít thường xuyên hơn và ít thời gian điều trị hơn để giúp duy trì sự phục hồi của họ.

2.      Điều trị nội trú

Loại hình điều trị này đặc biệt phù hợp cho những người có vấn đề nghiêm trọng hơn (ngoài việc lạm dụng chất gây nghiện bệnh nhân còn có nhiều rối loạn tâm lý khác). Các cơ sở điều trị nội trú được cấp phép cung cấp dịch vụ 24 giờ có tổ chức và phương pháp hỗ trợ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm cả nhà ở an toàn và chăm sóc y tế. Các cơ sở điều trị tại nhà có thể sử dụng một loạt các phương pháp điều trị, và họ thường nhắm mục đích giúp bệnh nhân sống một lối sống tội phạm tự do không có ma túy sau khi điều trị. Các phương pháp điều trị nội trú bao gồm:

Điều trị nghiện dựa vào cộng đồng, được xây dựng một cách chặt chẽ giữa các chương trình hoạt động trong đó bệnh nhân vẫn có một nơi cư trú, thường từ 6 đến 12 tháng. Toàn bộ cộng đồng, bao gồm cả nhân viên điều trị và những người trong cộng động làm công tác hỗ trợ chính cho những thay đổi, ảnh hưởng của bệnh nhân: thái độ, sự hiểu biết, và các hành vi liên quan đến sử dụng.

Điều trị nội trú ngắn hạn, thường tập trung vào quá trình cắt cơn, giải độc cũng như cung cấp tư vấn chuyên sâu ban đầu và chuẩn bị điều trị trong một môi trường dựa vào cộng đồng.

Cai nghiện tại nhà, cung cấp nhà ở có giám sát, ngắn hạn cho bệnh nhân, thường sau các loại điều trị nội trú hoặc để ở. Phục hồi tại nhà có thể giúp mọi người chuyển đổi sang một cuộc sống tích cực hơn ví dụ như độc lập, biết cách quản lý tài chính hoặc tìm kiếm việc làm, cũng như kết nối chúng để hỗ trợ các dịch vụ trong cộng đồng.

Nghiên cứu khoa học từ giữa năm 1970 cho thấy: điều trị lạm dụng chất gây nghiện có thể giúp những người phạm tội sử dụng ma túy thay đổi thái độ, niềm tin và hành vi đối với việc lạm dụng ma túy; tránh tái phát; và thành công loại bỏ mình khỏi một cuộc sống lạm dụng ma túy và tội phạm. Tuy nhiên, nhiều người phạm tội không có quyền truy cập vào các loại hình dịch vụ mà họ cần. Cách điều trị có chất lượng kém hoặc không tốt phù hợp với nhu cầu của người phạm tội có thể không có hiệu quả trong việc giảm sử dụng ma túy và hành vi tội phạm.

Ngoài những nguyên tắc chung của điều trị, một số cân nhắc cụ thể đến người phạm tội bao gồm:

  • Điều trị bao gồm phát triển các kỹ năng nhận thức cụ thể để giúp người phạm tội điều chỉnh thái độ và niềm tin dẫn đến lạm dụng ma túy và tội phạm, chẳng hạn như cảm giác được có những thứ của một người theo cách riêng hoặc không hiểu biết những hậu quả của hành vi của một người. Điều này bao gồm các kỹ năng liên quan đến suy nghĩ, hiểu biết, học hỏi, và ghi nhớ.
  • Lập kế hoạch điều trị bao gồm tất cả các dịch vụ nhằm chuyển đổi phù hợp với quy trình điều trị cai nghiện dựa vào cộng đồng;
  • Phối hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ điều trị lạm dụng chất ma túy và tòa án hoặc viện kiểm soát cũng như các cán bộ quản chế là rất quan trọng trong việc giải quyết những nhu cầu phức tạp của người phạm tội tái nhập xã hội đặc biệt là người phạm tội liên quan đến ma túy; 

Như chúng ta đã biết, lạm dụng các chất gây nghiện (ma túy) sẽ làm thay đổi chức năng của não bộ, có thể “kích hoạt” cơn thèm nhớ trong não của người sử dụng. Điều quan trọng đối với những người đang điều trị, đặc biệt là những người điều trị tại một cơ sở điều trị nội trú hay nhà tù là giúp họ nhận biết được kiến thức tốt, trang bị một số kỹ năng phòng tránh và đối phó với các tình huống nguy cơ sau khi điều trị.

 

     

Tuy nhiên, nghiện ma túy có thể điều trị được nếu chúng ta thực hiện đúng, đầy đủ các nguyên tắc sau:

  • Nghiện là một bệnh phức tạp nhưng có thể điều trị, tuy nhiên có ảnh hưởng đến chức năng của não và hành vi của người nghiện;
  • Không có phương pháp điều trị duy nhất là đúng cho tất cả mọi người;
  • Mọi người cần phải được cung cấp thông tin nhanh chóng để điều trị;
  • Điều kiện đảm bảo việc điều trị hiệu quả tất cả các nhu cầu của bệnh nhân, không chỉ với người sử dụng ma túy mà bao gồm cả người xung quanh họ;
  • Điều trị cần quá trinh đủ dài là rất quan trọng;
  • Tư vấn và các liệu pháp hành vi khác là những hình thức phổ biến nhất được sử dụng trong điều trị cai nghiện chống tái nghiện;
  • Thuốc thường là một phần quan trọng trong điều trị, đặc biệt là khi kết hợp với các liệu pháp hành vi;
  • Kế hoạch điều trị phải được xem xét thường xuyên và sửa đổi để phù hợp với nhu cầu thay đổi của bệnh nhân;
  • Điều trị phải giải quyết các rối loạn tâm thần khác có thể xảy ra đối với người bệnh;
  • Cắt cơn, giải độc chỉ là giai đoạn đầu điều trị;
  • Điều trị phải là tự nguyện như vậy mới có hiệu quả tích cực và bền vững;
  • Sử dụng ma túy trong thời gian vì vậy điều trị cần phải được theo dõi thường xuyên và liên tục;
  • Chương trình điều trị cho người sử dụng ma túy cần kiểm tra sức khỏe bệnh nhân. Đặc biệt lưu ý đối với người bệnh có HIV/AIDS, Viêm gan B, C, Lao phổi và các bệnh truyền nhiễm khác. Nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người xung quanh và điều trị hiệu quả.

        Vũ Bền

Theo Drugabuse.gov

CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY

CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY

I. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY (THEO DSM IV):

A. Các dấu hiệu:

Một các sử dụng ma túy không thích hợp gây ra trạng thái suy yếu hay đau khổ có ý nghĩa về mặt lâm sàng, biểu hiện bằng 3 (hay nhiều hơn) các dấu hiệu dưới đây xảy ra trong vòng 12 tháng.

1. Trạng thái dung nạp: biểu hiện bằng 1 trong 2 dấu hiệu sau đây:

a. Cần tăng liều rõ rệt để dặt được sự nhiễm độc hoặc hiệu quả mong muốn.

b. Hiệu quả giảm rõ rệt với việc sử dụng cùng liều như trước.

2. Hội chứng cai: biểu hiện bằng 1 trong 2 dấu hiệu sau đây

a. Ngừng sử dụng hoặc giảm mạnh liều sẽ xuất hiện hội chứng cai.

b. Dùng lại chất và liều đã dùng dể tránh hội chứng cai.

3. Các chất thường được dùng với liều lớn hoặc quá lớn trong một thời gian dài hơn dự định.

4. Mong muốn dai dẳng hoặc cố gắng không thành trong việc ngừng hoặc kiểm soát việc sử dụng chất gây nghiện.

5. Dành phần lớn thời gian để tìm kiếm chất gây nghiện.

6. Mọi hoạt động xã hội, nghề nghiệp hay giải trí quan trọng bị từ bỏ hoặc giảm sút do sử dụng ma túy.

7. Vẫn tiếp tục sử dụng chất gây nghiện bất chấp biết được hậu quả gây ra dai dẳng hay tái diễn ra cho cơ thể và tâm thần của chất gây nghiện (ví dụ: vẫn tiếp tục uống rượu bất chấp việc biết được nó sẽ gây ra loét dạ dày).

Chất gây phụ thuốc cơ thể có điểm 1 và 2.

Chất không gây phụ thuộc cơ thể không có điểm 1 và 2.

B. Sáu đặc trưng tiến triển của nghiện ma túy:

1. Thuyên giảm nhanh, hoàn toàn

Trong thời gian từ 1 đến 12 tháng không có bất cứ tiêu chuẩn nào về nghiện ma túy hoặc lạm dụng ma túy.

2. Thuyên giảm nhanh, một phần

Trong thời gian từ 1 đến 12 tháng ít nhất có 1 tiêu chuẩn nghiện hoặc lạm dụng ma túy.

3. Thuyên giảm chậm, hoàn toàn

Vào bất cứ thời điểm nào trong ít nhất 12 tháng không có bất cứ tiêu chuẩn nào về nghiện ma túy hoặc lạm dụng ma túy.

4. Thuyên giảm chậm, một phần

Vào bất cứ thời điểm nào trong ít nhất 12 tháng không có đầy đủ các tiêu chuẩn về nghiện ma túy tuy nhiên có ít nhất một tiêu chuẩn nghiện hoặc lạm dụng ma túy.

Các đặc trưng sau đây giải thích nếu đối tượng đang được điều trị đồng vận hoặc trong môi trường bảo vệ đặc biệt.

5. Đang được điều trị bằng thuốc đồng vận

Đặc trưng này được sử dụng nếu đối tượng đang được điều trị bằng thuốc đồng vận và không có bất cứ tiêu chuản nào về nghiện hoặc lạm dụng ma túy ít nhất trong tháng vừa qua. Mục này cũng bao gồm các đối tượng đang được điều trị nghiện bằng thuốc đồng vận một phần hoặc đối vận.

6. Đang ở trong môi trường bảo vệ đặc biệt

Đặc trưng này được sử dụng nếu đối tượng ở trong môi trường không có chất gây nghiện (như ở trong tù, trung tâm cai nghiện…) và không có bất cứ tiêu chuẩn nào về nghiện hoặc lạm dụng chất ít nhất trong tháng vừa qua.

II. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN LẠM DỤNG MA TÚY (THEO DSM IV):

A. Một cách lạm dụng ma túy về mặt lâm sàng được biểu hiện ít nhất một trong các dấu hiệu dưới đây.

1. Sử dụng tái diễn chất gây nghiện đưa đến thất bại trong việc thực hiện các vai trò quan trọng trong các nhiệm vụ ở công sở, ở trường hoặc ở nhà (Ví du: thường vắng nhà hoặc hiệu suất công việc giảm do sử dụng ma túy, bị đình chỉ hoặc đuổi khỏi trường học, không quan tâm đến con cái, nhà cửa).

2. Sử dụng tái diễn chất gây nghiện trong những tình huống nguy hiểm cho cở thể (Ví dụ: lái xe hoặc vận hành máy trong tình trạng không tỉnh táo do sử dụng ma túy gây ra).

3. Có các vấn đề với pháp luật do liên quan tới sử dụng tái diễn ma túy (Ví dụ: bị bắt giữ vì rối loạn hành vi do sử dụng ma túy).

4. Tiếp tục sử dụng ma túy mặc dù còn tồn tại dai dẳng hay tái diễn các vấn đề xã hội hay giao tiếp do sử dụng ma túy (Ví dụ: cãi cọ với vợ về những hậu quả của nhiễm độc, của ẩu đả).

B. Các triệu chứng trên không bao giờ đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy.

III. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NHIỄM ĐỘC MA TÚY (THEO DSM IV):

1. Xuất hiện một hội chứng đặc trưng cho một chất có thể phục hồi do mới sử dụng (hoặc tiếp xúc) chất đó.

Các chất khác nhau có thể gây ra các hội chứng tương tự hoặc đặc trưng riêng.

2. Thay đổi hành vi hoặc tâm lý không thích hợp, do tác dụng của chất đó trên hệ thần kinh trung ương (VD: hung hăng, khí sắc không ổn định, rối loạn nhận thức, phán đoán sai lệch, rối loạn chức năng xã hội hoặc nghề nghiệp), xuất hiện trong hoặc thời gian ngắn sau khi sử dụng chất.

3. Các triệu chứng không do một bệnh cơ thể hoặc một rối loạn tâm thần khác.

IV. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG CAI (THEO DSM IV):

1. Xuất hiện một hội chứng đặc trưng của một chất do ngừng (hoặc giảm) sử dụng nhiều và kéo dài chất đó.

2. Hội chứng đặc trưng của chất gây ra một trạng thái suy yếu hay đau khổ có ý nghĩa về mặt lâm sàng trong các lĩnh vực xã hội, nghề nghiệp, hoặc trong những lĩnh vực quan trọng khác.

3. Các triệu chứng không do một bệnh cơ thể hoặc một rối loạn tâm thần khác gây ra.

V. CÁC DẤU HIỆU SỚM CỦA NGHIỆN MA TÚY:

Giúp phát hiện sớm và cần phải quan tâm "săn sóc đặc biệt".

1. Dấu hiệu chung

– Xa lánh, từ chối tiếp xúc với nhiều người.

– Không quan tâm đến ăn mặc, ngoại hình.

– Thay đổi bạn.

– Nhiều biến đổi cảm xúc (lo âu, trầm cảm, hung bạo…)

– Mất hứng thú với các hoạt động giải trí, thể thao v.v…

– Thay đổi tính cách.

– Cười bất thường.

– Hành vi nói dối.

– Nhiều vết bẩn trên người và quần áo bốc mùi khó chịu…

2. Ở trường

– Giảm tham gia các hoạt động ở trường.

– Bỏ học.

– Ăn cắp ở trường.

– Thay đổi thái độ sai khi nghỉ giải lao hoặc sau khi vào nhà vệ sinh ra.

3. Ở nhà:

– Ăn kém.

– Không tôn trọng giờ giấc, thường về nhà muộn.

– Thường vắng nhà.

– Thay đổi thái độ ứng xử với người thân.

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐẶC TÍNH CỦA NGHIỆN MA TÚY

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐẶC TÍNH CỦA NGHIỆN MA TÚY

Nghiện nói chung và nghiện ma túy nói riêng (hợp pháp và bất hợp pháp) do nhiều nguyên nhân phức tạp kết hợp chặt chẽ với nhau gây ra làm cho công tác điều trị và dự phòng gặp nhiều khó khăn và trở ngại.

I. NGUYÊN NHÂN NGHIỆN MA TÚY:

Hiện nay có 3 nguyên nhân chủ yếu thường được nhắc đến:

– Có tác nhân gây nghiện

– Có đối tượng có khuynh hướng lạm dụng các chất gây nghiện

– Có môi trường "gia đình và xã hội thuận lợi".

Ba nguyên nhân này kết hợp chặt chẽ với nhau theo mô hình sai

A. CHẤT GÂY NGHIỆN:

Ngoài những tác nhân gây nghiện đã mặc nhiên tồn tại, trên thế giới ngày càng ra đời nhiều loại chất gây nghiện mới làm cho công tác phòng chống lạm dụng chất gây nghiện đã khó nay càng khó hơn. Công tác triệt phá việc sản xuất, tàng trữ và buôn bán chất gây nghiện cũng diễn biến hết sức phức tạp. Theo báo cáo của cơ quan cảnh sát phòng chống chất gây nghiện, chúng ta mới khám phá thu giữ được khoảng 5%-10% lượng chất gây nghiện hợp pháp tiêu thụ trên thị trường.

Điều này có nhiều lý do:

– Do lợi nhuận quá cao của mặt hàng này nên không ít kẻ vẫn liều lĩnh buôn bán, sản xuất, tàng trữ. Thậm chí chúng lôi kéo gia đình, dòng họ, lợi dụng cả người già và trẻ em vào đường buôn bán chất gây nghiện này. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ mua chuộc các cơ quan chức năng tới việc chống trả quyết liệt khi bị phát hiện. Mặc dù hình phạt dành cho loại tội phạm này rất nghiêm khắc (tử hình) nhưng cũng không ngăn cản được lòng tham của chúng.

– Do đặc điểm địa lý của nước ta thuận lợi cho việc buôn lậu các chất gây nghiện: đó là nước ta nằm cạnh vùng tam giác vàng (Thái Lan, Lào, Miến điện), một trong những trung tâm sản xuất chất gây nghiện lớn trên thế giới. Chúng ta có đường biên giới rất dài và nhiều cửa khẩu trên bộ, trên biển và hàng không với nhiều nước trên khu vực và thế giới, trong khi lực lượng phòng chống chất gây nghiện còn mỏng, trang thiết bị hiện đại còn thiếu, nên chất gây nghiện dễ dàng thẩm lậu vào nước ta.

– Do giao lưu quốc tế mở rộng, du lịch phát triển, mạng lưới thương mại rông khắp, hàng hóa xuất nhập khẩu, trung chuyển ngày càng gia tăng, đòi hỏi thời gian thông quan nhanh làm cho việc kiểm soát chất gây nghiện gặp nhiều khó khăn, nhất là khi chúng ta còn thiếu thông tin chính xác, kịp thời về loại hình tội phạm này.

– Việc toàn cầu hóa là một thuận lợi nhưng cũng là một thách thức to lớn trong công cuộc phòng chống chất gây nghiện. Nhiều loại chất gây nghiện mới không chỉ thâm nhập mà còn được sản xuất trong nước thông gia những chỉ dẫn trên mạng internet quốc tế như các điều chế, cách sử dụng… thậm chí được truyền bá bởi các khách du lịch quốc tế vào nước ta.

Những khó khăn chủ yếu nêu trên của nước ta đồng thời cũng là những khó khăn của các nước khác trên thế giới. Vì vậy đã có nhiều hiệp định song phương và đa phương giữa lực lượng công an nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm hợp lực đấu tranh với loại tội phạm liên quan tới chất gây nghiện. Tuy nhiên, triệt phá đường dây cung cấp chất gây nghiện không hề dễ dàng và đơn giản. Một thí dụ rõ nhất là Hoa Kỳ: cơ quan phòng chóng chất gây nghiện quốc gia được đầu tư rất nhiều tiền của, phương tiện hiện đại, huy động cả các cơ quan tình báo, thậm chí cả quân đội vào công tác này nhằm triệt phá các trung tâm sản xuất ma túy không chỉ ở trên đất Mỹ mà còn ở các nước hữu quan khác như Colombia, Apganistan, Panama, Mehico… Các chiến dịch này đã thu được nhiều kết quả: phá hủy nhiều trung tâm sản xuất chất gây nghiện, phát hiện và bắt giữ nhiều đường dây buôn lậu chất gây nghiện vào nước Mỹ và các nước khác. Tuy nhiên số lượng người Mỹ lạm dụng chất vẫn không giảm. Theo số liệu dịch tễ của Mỹ [Manual ò Therapeuties for Addictions 1997] có 16% dân Mỹ nghiện rượu (28% ở nam, 8% ở nữ), 8% nghiện ma túy (19% nam, 5% ở nữ), 30%-84% những người nghiện sử dụng rượu cùng với các loại chất khác như cần sa, cocaine, các chất dạng thuốc phiện…

Ở Việt Nam, đầu thập kỷ 90 thế kỷ 20, chúng ta đã thành công trong việc triệt phá các cánh đồng trồng cây anh túc (cây thuốc phiện) nhưng ngay lập tức heroin tràn vào nước ta và những người nghiện thuốc phiện trước kia nay chuyển sang nghiện heroin (một loại chất được tinh chế từ thuốc phiện) mạnh hơn và nguy hiểm hơn thuốc phiện. Vì vậy chúng ta phải thùa nhận rằng mọi nỗ lực của chúng ta chỉ mới có thể làm giảm được lượng chất gây nghiện trên thị trường chứ chưa thể loại trừ được hoàn toàn chất gây nghiện (mới giảm được cung chứ chưa loại được cung).

Do vậy chủ trương của nhiều nước trên thế giới là đi đôi với giảm cung cần có các giải pháp giảm cầu hữu hiệu, nghĩa là tác động vào những người có nguy cơ cao và đã nghiện từ bỏ việc sử dụng các chất gây nghiện.

B. YẾU TỐ CÁ NHÂN:

Đa số những người bắt đầu đi vào con đường nghiện ma túy ở nước ta phụ thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi của giai đoạn khủng hoảng trong quá trình phát triển tâm lý và hoàn thiện nhân cách.

Thanh thiếu niên có thể đi vào con đường nghiện ma túy do tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổi, muốn thử trải nghiệm những cảm giác kỳ lạ của chất gây nghiện (do bạn bè kể lại) bất chấp sự ngăn cản của gia đình và xã hội, bất chấp những kiến thức tiếp thu về tác hại của chất gây nghiện qua thông tin truyền thông ở nhà trường, gia đình và xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin truyền thông ở nhà trường, gia đình và xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, bất chấp những hậu quả nghiêm trọng mà bản thân cũng nhận thấy ở những người nghiện khác.

Một số thanh thiếu niên sử dụng các chất gây nghiện như một phương thức khẳng định mình, tự cho mình đã trưởng thành, được quyền chọn hành vi độc lập tùy thích.

Những thanh thiếu niên có những vấn đề bất mãn với gia đình và cộng đồng có thể sử dụng chất gây nghiện như một phản ứng chống đối.

Cũng có thể thanh thiếu niên tìm đến chất gây nghiện như một phương thức lẩn tránh khỏi tác động của các stress rất đa dạng trong đời sống hiện đại: stress trong gia đình (mâu thuẫn giữa các thế hệ, cha mẹ bất hòa, ly thân, ly hôn, mất người thân gắn bó với họ, bị bạo lực trong gia đình, bị lạm dụng tình dục, bố. mẹ hoặc anh chị em khác lạm dụng các chất gây nghiện…), stress trong môi trường học tập (thi hỏng, bị thi hành kỷ luật,…), stress trong tình yêu, stress trong công việc…

Một số do yếu tố sinh học và di truyền: thường gặp trong rối loạn liên quan tới rượu được phản ánh qua các nghiên cứu mối liên quan giữa con cái và cha mẹ nghiện rượu, sinh đôi cùng trứng và khác trứng, con nuôi…

Thường gặp nhất và nguy hại nhất trong thời đại hiện nay là thanh thiếu niện sử dụng chất gây nghiện do ảnh hưởng hay áp lực của các bạn đã nghiện trong cùng bằng nhóm theo các qui luật "hoặc đồng hóa theo nhóm hoặc bị loại trừ ra khỏi nhóm". Mà đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thanh thiếu niên là không muốn và không thể sống lẻ loi ngoài nhóm.

Một số thanh thiếu niên tìm đến các chất gây nghiện do các trạng thái bệnh tâm lý tâm thần nhất thời hay trường diễn. Thường gặp nhất là các trạng thái lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn, tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay nhân cách bệnh lý. Lo âu có thể do thất bại trong cuộc sống, chán nản với hoàn cảnh, không tìm được mô hình lý tưởng để theo… Trầm cảm lúc đầu có thể do các stress gây ra và thanh thiếu niên tưởng nhầm là các chất gây nghiện khác có thể giúp thanh toán được các trạng thái trầm cảm của mình. Và những nhân cách bệnh lý, nhất là nhân cách bệnh chống xã hội, thưởng có khuynh hướng lạm dụng các chất gây nghiện. Và cũng có những người tuy chưa phải là nhân cách bệnh lý nhưng cũng có khuynh hướng lạm dụng chất.

Như vậy thầy thuốc tâm thần có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị nghiện, đặc biệt những thầy thuốc có thể áp dụng được nhiều liệu pháp tâm lý, giúp đối tượng loại trừ ảnh hường của các tác nhân tâm lý đa dạng đã gây ra hay thúc đầy nghiện và/hoặc tái nghiện.

C. YẾU TỐ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI:

Gia đình, trường học và địa bàn sinh sống (khu phố, cụm dân cư…) chứa đựng nhiều nhân tố có nguy cơ gây nghiện, duy trì nghiện và tạo điều kiện thuận lợi cho tái nghện ma túy.

Môi trường chính là cầu nối hay chất xúc tác cho sự gặp gỡ giữa con người có khuynh hướng nghiện với các tác nhân gây nghiện.

1. Nguyên nhân môi trường gia đình:

Phần lớn thanh thiếu nhiên nghiện ma túy thuộc về các gia đình lơ là trong nhiệm vụ giáo dục, chăm sóc và quản lý con em của mình. Không ít gia đình chỉ biết con em của mình bị nghiện hoặc phạm pháp sai khi chúng có vấn đề với cơ quan hành pháp.

Những gia đình có con em nghiện ma túy thường là những gia đình hoặc không có thái độ phê phán nghiêm khắc với con em khi chúng bắt đầu sử dụng chất gây nghiện hoặc mất cảnh giác cho chúng nhiều tiền để tự do tiêu xài, đua đòi cùng bạn bè hoặc không kiểm tra xem con em mình có sử dụng tiền đúng mục đích hay không.

Đặc biệt nguy hại là những gia đình do sĩ diện hay do nuông chiều con cái không dám thừa nhận với cộng đồng là chúng đã bị nghiện, không dám đưa chúng đi điều trị ở các cơ sở cai nghiện và chịu áp lực thường xuyên phải cung cấp tiền để chúng mua chất gây nghiện.

Một số gia đình bố. mẹ cũng nghiện chất như nghiện rượu, nghiện thuốc lá… Đa số thanh thiếu niên trước khi nghiện ma túy đã lạm dụng rượu hay thuốc lá một thời gian và tiếp sau đó là nghiện chất bất hợp pháp.

Một số gia đình thiếu kinh nghiệm trong giáo dục con cái như thiếu kiên quyết, quá nóng giận hoặc hay trừng phạy không phù hợp với mức độ và hoàn cảnh, sợ con cái tức giận bỏ đi, sợ tan vỡ gia đình… cũng là nhân tố thúc đẩy.

Như phần trên đã đề cập đến, các stress xuất hiện do nội bộ gia đình có nhiều xung đột thường xuyên cũng là nhân tố thúc đẩy con em mình đi vào con đường nghiện chất, được chúng xem như là một phương thức để thoát khỏi bầu không khí căng thẳng, nặng nề phải chịu đựng hằng ngày.

Như vậy trong quá trình điều trị, việc thầy thuốc thiết lập được mối quan hệ mật thiết và thường xuyên với gia đình và người bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong khâu phát hiện và khắc phục nguyên nhân. Nếu tiến hành được liệu pháp đình hệ thống thì kết quả chống nghiện và chống tái nghiện sẽ cao hơn và bệnh vững hơn.

2. Nguyên nhân môi trường xã hội:

Hiện nay có thể nói, chúng ta đang phải sống trong một môi trường xã hội bị ô nhiễm chất gây nghiện: các ổ nhóm và tuh điểm tiêm chích chất gây nghiện vẫn con tồn tại ở nhiều nơi, người nghiện vẫn có thể tìm mua chất gây nghiện tương đối dễ dàng.

Tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Cơ chế thị trường và sự tăng trưởng kinh tế nhanh đã kéo theo nhiều biến đổi xã hội cả tích cực lẫn tiêu cực. Sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra, tốc độ đô thị hóa cũng gia tăng nhanh chóng. Trình độ nhận thức của một bộ phận xã hội không theo kịp sự phát triển kinh tế, sự thay đổi của xã hội làm không ít người, không ít gia đình đã bị mất phương hướng, lâm vào khủng hoảng bởi mất cân bằng nội môi.

Mặt khác, các chuẩn mực đạo đức xã hội cũng ít nhiều bị biến đổi, xói mòn. Một nguyên nhân xã hội nữa là việc tôn trọng và thực thi pháp luật chưa được nghiêm túc. Bọn tội phạm liên quan tới chất gây nghiện không ngừng tấn công vào các tầng lớp thanh thiếu niên, nhưng ở nhiều nơi chính quyền và các cơ quan chức năng chưa huy động được sức mạnh toàn dân trong cuộ chiến chống chất gây nghiện.

Hiện nay môi trường học đường từ tiểu học đến đại học đã và đang bị ma túy xâm nhập. Sức ép trong học tập cũng được coi như những stress quá lớn đối với một bộ phận học sinh không theo kịp, làm chúng chán nản và bỏ học và đi đến nghiện chất và các loại tệ nạn khác.

Những nguyên nhân xã hội nêu trên đã làm cho đội ngũ những người nghiện chất ngày càng đông hơn và trẻ hơn.

II. ĐẶC TÍNH CỦA NGHIỆN MA TÚY:

1. Nghiện ma túy là một bệnh nguyên phát:

Trước hết các rối loạn liên quan đến lạm dụng ma túy được phân loại vào mục F11 phần các rối loạn tâm thần của bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức Y tế thế giới (1992) và trong sách thống kê chuẩn đoán các rối loạn tâm thần của hội Tâm thần học Mỹ (1994).

Nghiện ma túy không phải là một bệnh thứ phát sau một bệnh cơ thể hay tâm thần mà là một bệnh nguyên phát do chất gây nghiện gây ra, có 3 nguyên nhân (có chất gây nghiện, con người và môi trường).

Đã là bệnh thì trước tiên cần phải được điều trị. Có điều trị khỏi thì các vấn đề khác mới được cải thiện (sức khỏe, việc làm, quan hệ xã hội…).

2. Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính:

Nghiện ma túy không thể chữa khỏi nhanh chóng được. Môi trường xung quanh còn có khả năng cung cấp chất gây nghiện thì đối tượng còn có nguy cơ tái nghiện và bệnh còn kéo dài (mạn tính). Chỉ khi nào liệu pháp sinh học làm cho hết thèm nhớ và liệu pháp tâm lý phát huy tác dụng, đối tượng rèn luyện có kết quả, có đầy đủ quyết tâm và nghị lực từ bỏ chất gây nghiện suốt đời thì bênh mới có thể xem như khỏi hẳn.

3. Nghiện ma túy là một bệnh tiến triển:

Nghiện ma túy càng để lâu không điều trị thì bệnh tiến triển ngày càng xấu hơn do lượng chất gây nghiện vào cơ thể ngày càng cao gây nghiễm độc mạn tính, gây rối loạn hoạt động chức năng của não, gây rối loạn hành vi, gây suy kiệt cơ thể, mắc các bệnh khác…

4. Nghiện ma túy là một bệnh có thể gây chết người:

Nếu không được điều trị, nghiện ma túy có thể gây tử vong không phải chỉ do tác động của chất gây nghiện vào các cơ quan nội tạng mà còn do những rối loạn tâm thần và hành vi do chất gây nghiện gây ra như tai nạn giao thông, lao động, do hoang tưởng ảo giác chi phối, tự sát, lây nhiễm các bệnh qua đường tiêm chích hoặc quan hệ tình dục không an toàn (HIV, viêm gan B, C, nhiễm trùng máu, tim, phổi…).

5. Nghiện ma túy là một bệnh có thể chữa được:

Nghiện ma túy là một bệnh khó chữa khỏi nhưng vẫn có thể chữa khỏi nếu có chiến lược điều trị thích hợp, đem lại lòng tin cho đối tượng, đưa dần đối tượng đến chỗ quyết tâm sửa chữa (không dùng chất gây nghiện nữa). Ngoài ra nếu có sự động viên giúp đỡ của gia đình và cộng đồng về các mặt (tài chính, việc làm, không kỳ thị…) thì điều trị có kết quả nhiều hơn.

6. Nghiện ma túy khó điều trị do tâm lý từ chối chữa bệnh của đối tượng:

Từ chối chữa bệnh là một đặc điểm tâm lý rất phổ biến của những đối tượng nghiện ma túy. Có nhiều lý do:

– Trước hết đối tượng không muốn và không thể từ bỏ cảm giác sảng khoái do chất gây nghiện đem lại.

– Đối tượng nghiện không chịu đựng nổi những phản ứng của gia đình và cộng đồng, những khó khăn của cuộc sống, tìm cách ngày càng lẩn trốn vào chất gây nghiện, không muốn và không dám điều trị để trở lại thực tại mà đối tượng không thích nghi được nữa.

– Nếu đối tượng cảm nhận được sự dung túng của người thân thì càng từ chối mạnh hơn và dai dẳng hơn.

– Chính sự từ chối chữa bệnh của đối tượng (và sự dung túng của người thân trong một số trường hợp) đã hình thành và duy trì phương thức điều trị bắt buộc ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.

7. Nghiện ma túy tiến triển xấu do hành vi dung túng của người thân:

Người thân ở đây bao gồm các thành viên trong gia đình, bạn bè thân cận và bạn đồng nghiệp của đối tượng nghiện.

Hành vi dung túng là những hành vi giúp cho người nghiện tiếp tục sử dụng chất gây nghiện mà không bị phê phán, lên án hoặc tránh bị rắc rối (phạt) bởi cơ quan hành pháp.

Hành vi dung túng rất đa dạng, bao gồm sử dụng nhiều loại như:

– Gia đình che dấu việc sử dụng chất gây nghiện của con em mình với các cơ quan chức năng theo qui định của pháp luật.

– Gia đình bảo lãnh cho con em mình khỏi phải đi điều trị bắt buộc, khỏi bị truy tố về những hành vi phạm pháp.

– Gia đình không theo dõi, kiểm tra những hành vi có liên quan đến sử dụng ma túy của con em mình, không nghiêm khắc phát hiện và đối chất với những lời nói dối của con em mình, vẫn cung cấp nhiều tiền cho chúng tiêu xài.

– Bạn đồng nghiệp che dấu hành vi sử dụng chất gây nghiện của đối tượng ở công sở.

– Bạn thân làm chứng giả cho những lời nói dối của đối tượng.

Như vậy, ta thấy rõ một nhiệm vụ quan trọng của liệu pháp gia đình là phát hiện và giúp sửa chữa những hành vi dung túng của các thành viên trong gia đình có người nghiện ma túy.

III. NGHIỆN MA TÚY KÈM THEO CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

– Theo DSM IV, ở Mỹ (1991) có 76% nam, 65% nữ được chẩn đoán lạm dụng hoặc nghiện ma túy có thêm một chẩn đoán rối loạn tâm thần.

– Các rối loạn tâm thần khác thường kết hợp với lạm dụng ma túy là: nhân cách bệnh chống xã hội, lo sợ ám ảnh và các rối loạn lo âu khác, trầm cảm nội sinh và tâm sinh.

Tính chất đồng bệnh lý tâm thần và lạm dụng ma túy thường gặp ở lạm dụng chát dạng thuốc phiện, cocain và marijuana.

– 90% người nghiện ma túy dạng thuốc phiện có thêm một chẩn đoán rối loạn tâm thần: 1/3-1/2 những người nghiện hoặc lạm dụng ma túy dạng thuốc phiện có kèm theo trầm cảm.

– 40% những người lạm dụng hoạc nghiện rượu có đủ tiêu chuẩn chuẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình vào một thời điểm trong cuộc sống của họ.

– 25-50% rối loạn liên quan tới rượu có đủ tiêu chuẩn chuẩn đoán rối loạn lo âu (thường gặp rối loạn lo sợ và hoảng sợ).

– Có một tỉ lệ rất cao các bệnh nhân tâm thần hút thuốc lá: 50% bệnh nhân tâm thần ngoại trú, 70% bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực I ngoại trú, 90% bệnh nhân tâm thần phân liệt ngoại trú. Gần 1/2 doanh số bán thuốc lá hàng năm ở Mỹ (256 triệu USD/ năm) do bệnh nhân tâm thần tiêu thụ.

– Lạm dụng ma túy cũng là một nhân tố thúc đẩy tự sát. Nguy cơ tự sát ở người lạm dụng ma túy cao hơn gần 20 lần so với dân số chung. Khoảng 15% người lạm dụng hoặc nghiện rượu nói họ đã toan tự sát (thường do thiếu trợ giúp tâm lý xã hội, bị các bệnh cơ thể, không có việc làm, sống độc thân). Tỉ lệ tự sát ở người lạm dụng hoặc nghiện chất đứng thứ hai sau tỉ lệ tự sát ở bệnh nhân trầm cảm.

 

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

BS. Nguyễn Minh Tuấn

Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia

Đơn vị Nghiên cứu Điều trị Nghiện Ma túy

Liệu pháp gia đình cũng như các liệu pháp nhận thức – tập tính, liệu pháp tâm lý nhóm là những lĩnh vực chuyên sâu cần được đào tạo lâu dài về lý thuyết và thực hành mới có thể đem lại kết quả tối đa. Trong hoàn cảnh nước ta, thầy thước chuyên sâu về liệu pháp tâm lý đang còn ít nên ở đây chỉ đề cập đến các nguyên tắc điều trị chuyên sâu và giới thiệu qua các liệu pháp thông thường và giản đơn cho các thầy thuốc không chuyên sâu. Trong liệu pháp gia đình cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Đối với nghiện ma túy, có 2 cách tiếp cận được quan tâm nhiều nhất:

– Tiếp cận theo mô hình gia đình hệ thống

_ Tiếp cận theo mô hình gia đình bị bệnh

1. Cách tiếp cận theeo mô hình gia đình hệ thống

– Gia đình xem như một hệ thống, mỗi thành viên trong gia đình tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ theo quy luật của một hệ thống.

– Gia đình là một nhân tố thúc đầy quá trình nghiện ma túy. Nghiện ma túy thường xuất hiện vào những thời điểm gia đình có vấn đề gây tress (ly dị, ly thân, xung đột, kiện cáo, tai nạn v.v).

– Đối tượng nghiện ma túy tác động trở lại các thành viên trong gia đình, gây các rối loạn về chức năng, ranh giới, trật tự v.v… đặc việt làm mất cân bằng trong sự hằng định nội môi của gia đình.

– Như vậy liệu pháp gia đình nhằm điều trị gia đình như một hệ thống chứ không riêng thành viên nghiện ma túy, phải cùng các thành viên tìm các nhân tố chủ yếu gây mất cân bằng nội môi và tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng này.

2. Cách tiếp cận theo mô hình gia đình bị bệnh

– Cách tiếp cận này xem nghiện ma túy là một bệnh và tác động qua lại lâu ngày giữa các thành viên nghiện và các thành viên khác sẽ gây ra nhiều biến đổi về tập tính, về thái độ ứng xử, về nhận thức v.v… mang tính chất bệnh lý (bệnh lý tâm thần là chủ yếu) cho những thành viên khác trong gia đình.

– Các hiện tượng có tính bệnh lý thường gặp:

+ Hiện tượng từ chối: Các thành biên trong gia đình không thừa nhận tính chất tai hại của nghiện ma túy (vợ bảo vệ cho chồng, mẹ bảo vệ cho con).

+ Hiện tượng dung túng: Các thành viên tạo điều kiện thuận lợi cho thành viên nghiện tiếp tục sử dungh heroin (cho tiền, tránh kiểm tra những việc làm ngoài gia đình của đối tượng, xin cho đối tượng khỏi đến các trung tâm điều trị bắt buộc v.v). Dung túng và từ chối có liên quan chặt chẽ với nhau.

+ Hiện tượng cùng lệ thuộc: Thường là vợ hay mẹ của đối tượng có hiện tượng này. Thành viên gai đình có hiện tượng cùng lệ thuộc chăm lo quá mức cho đối tượng nghiện, tổ chức cuộc sống của mình xoay quanh đối tượng, lơ là đối với thành viên khác và cả đối với bản thân.

Tất cả những hiện tượng nói trên là những trở ngại lớn cho quyết tâm từ bỏ heroin của thành viên nghiện.

3. Các nguyên tắc điều trị chuyên sâu

Liệu pháp gia đình là một loại liệu pháp tâm lý rất khó thực hiện vì phải tiếp xúc riêng với từng thành viên và họp chung với toàn gia đình, phải biết cách làm cho tất cả đều tự nguyện hợp tác, không bỏ cuộc.

Do vậy, nhà điều trị tâm lý:

– Phải biết thu thập thông tin chi tiết từ bệnh nhân và các thành viên gia đình để cấu trúc lại một cách đầy đủ và chính xác trạng thái bệnh lý của bệnh nhân cũng như của các thành viên khác. Từ đó mới đề ra được chiến lược điều trị có hiệu quả.

– Phải phát hiện những nhân tố làm mất cân bằng nội môi xuất hiện trước và sau khi một thành viên bị nghiện.

– Phải khám phá các hiện tượng từ chối, dung túng hay cùng lệ thuộc của các thành viên và đề ra các việ pháp khắc phục (thí dụ: biện pháp tách rời ảnh hưởng giữa thành viên nghiện và thành viên cùng lệ thuộc).

– Phải dần dần đưa thành viên nghiện và các thành viên khác đến chỗ thống nhất thực hiện hợp đồng dài hạn "từ bỏ heroin và chống tái nghiện" với các biện pháp cụ thể và khả thi.

Muốn đạt được các nguyên tắc hay mục tiêu nêu ra ở trên nhà điều trị tâm lý phái sử dụng nhiều phương pháp và kỹ năng tâm lý (không có điều kiện mô tả ở đây).

4. Các biện pháp không chuyên sâu

Các biện pháp này không thực hiện riêng lẻ mà thường kết hợp với liệu pháp methadone hay naltrexone để đạt được kết quả cao. Có thể do thầy thuốc không chuyên khoa tâm thần thực hiện.

a. Trong điều trị ngoại trú tại cộng đồng, đối với mỗi bệnh nhân nghiện heroin, yêu cầu phải có một thành viên gia đình đi kèm. Thành viên này phải chọn trong những người mà bệnh nhân tôn trọng và tín nhiệm.

b. Thành viên gia đình đến mấy lần trong tuần và mỗi lần trong thời gian bao lâu sẽ được quy định thông qua bàn bạc giữa thầy thuốc và thành viên gia đình.

c. Trường hợp đặc biệt trong gia đình có thành viên xung đột sâu sắc với bệnh nhân gây trở ngại cho tiến trình điều trị thì thầy thuốc sẽ dành thì giờ gặp thêm thành viên này.

d. Bệnh nhân và thành viên gia đình phải được thầy thuốc giải thích đầy đủ về:

  • Tác hại của nghiện heroin.
  • Nhu cầu cấp thiết phải sớm được điều trị và điều trị lâu dài.
  • Các điều kiện cần thiết để có thể bỏ hẳn heroin.
  • Các bước trong kết hoạch điều trị.
  • Những điều mà bệnh nhân và thành viên gia đình nhất thiết phải tuân thủ thực hiện.

​đ. Sau kho được giả thích, bệnh nhân và thành viên gia đình phải có đơn tự nguyện xin điều trị và tự nuyện chấp hành nội quy điều trị của Trung tâm.

e. Thành viên gia đình và bệnh nhân được thông báo về các hình thức khen thưởng khi bệnh nhân thực hiện tốt nội quy điều trị và xử phạt khi không thực hiện. Gia đình có phần đóng góp trong các hình thức khen thưởng và xử phạt này.

g. Thành viên gia đình phải thường xuyên thông báo với thầy thuốc về các hành vi không bình thường của bệnh nhân tại gia đình và tại cộng đồng nhất là hành vi sử dụng lại heroin.

h. Thầy thuốc giải thích cho thành viên gia đình về hiện tượng "từ chối", "dung túng" , "cùng lệ thuộc" cũng như các rối loạn trong gia đình (mât tôn ti trật tự, thành viên không thực hiện những chức năng của mình, trở ngại và bế tắc trong tiếp xúc giữa các thành vien v.v) và yêu cầu phát hiện và thông báo đầy đủ các hiện tượng và rối loạn trên.

i. Thầy thuốc cùng thành viên gia đình bàn bạc về kế hoạch giải quyết dần dần từng bước các hiện tượng và rối loạn trên bằng những biện pháp phù hợp với các điều kiện cụ thể của gia đình.

LIỆU PHÁP TÂM LÝ TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

LIỆU PHÁP TÂM LÝ TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

BS. Nguyễn Minh Tuấn – Viện Phó Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia

Đơn vị Nghiên cứu Điều trị Nghiện Ma túy

I. VAI TRÒ CỦA LIỆU PHÁP TÂM LÝ TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN HEROIN

1. Định nghĩa liệu pháp tâm lý

Định nghĩa mở rộng:

Liệu pháp tâm lỹ bao gồm toàn bộ những liệu pháp không sử dụng các nhân tố lý hóa mà sử dụng các phương tiện và kỹ thuật tác động tâm lý.

Định nghĩa chính xác hơn (Wolberg):

Liệu pháp tâm lý là một cách điều trị sử dụng các phương tiện tác động tâm lý, trong đó một nhà điều trị thiết lập mối quan hệ hành nghề với một hay nhiều bệnh nhân nhằm 3 mục tiêu:

(1) Làm giảm hay mất các triệu chứng hiện có.

(2) Làm thay đổi các tập tính không thích ứng.

(3) Tạo thuận lợi cho nhân các bệnh nhân phát triển hài hòa.

2. Nhu cầu về liệu pháp tâm lý của bệnh nhân nghiện heroin (liên hệ với 3 mục tiêu của Wolberg)

(1) Bệnh nhân nghiện heroin có nhiều biểu hiện tâm thần có thể điều trị có kết quả bằng liệu pháp tâm lý: lo âu, trầm cảm, mất tự tin, không tin tưởng vào gia đình, cộng đồng và thầy thuốc, thiếu động cơ chữa bệnh, từ chối chữa bệnh v.v.

(2) Nghiện heroin là một bệnh tập nhiễm hình thành theo cơ chế phản xạ có điều kiện thực thi. Tập tính này cần và có thể loại trừ bằng các kỹ thuật khử điều kiện và khử tập nhiễm.

(3) Nhân cách người nghiện thường biến đổi, không còn thích ứng với gia đình và cộng đồng nữa. Biến đổi do cơ chế hóa với các thành viên nghiện khác trong nhóm, do thoát khỏi ảnh hưởng điều hòa của gia đình và bạn tốt. Phải áp dụng các liệu pháp tâm lý thích hợp, bền bỉ mới có thể giúp nhân cách trở lại hoạt động hài hòa như trước khi nghiện

II. CÁC LIỆU PHÁP TÂM LÝ THƯỜNG ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN HEROIN

Từ xưa đến nay có rất nhiều liệu pháp tâm lý ra đời dựa vào các cơ sở lý thuyết khác nhau nhiều khi mâu thuẫn với nhau. Bà phần tư đầu của thế kỷ 20 đã chứng kiến những cuộc bút chiến liên miên giữa các trường phái về liệu pháp tâm lý. Mãi đến một phần tư cuối của thế kỷ 20, trên cơ sở những kết quả lầm sàng rõ rệt đạt được của từng liệu pháp, đa số các tác giả dần dần theo quan điểm chiết trung và lồng ghép.

Nhà điều trị tâm lý hiện đại tìm hiểu và áp dụng các kỹ thuật có hiệu quả của tất cả các liệu pháp tâm lý chứ không gò bó như trước trong khuôn khổ một liệu pháp mà mình tin tưởng và gắn bó tử lâu. Và khi thực hành, nhà điều trị có thể lồng ghép nhiều liệu pháp tâm lý khác nhau cho một bệnh nhân hay một nhóm bệnh nhân chứ không cứng nhắc chỉ dùng một liệu pháp. Các liệu pháp tâm lý thưởng được lồng ghép để điều trị nghiện heroin bao gồm: liệu pháp nâng đỡ, liệu pháp gia đình, liệu pháp nhận thức, liệu pháp tập tính, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp thư giãn luyện tập ..v.v

Trước kia trong liệu pháp tâm lý nhóm nhất là trong cộng đồng điều trị, nhiều tác giả chủ trương không kết hợp với thuốc men. Nhưng hiện nay trong chống tái nghiện đa số tác giả thường kết hợp liệu pháp thay thế methadone hay liệu pháp đối kháng naltrexone. Kết quả thực tế đã minh chứng cho quan điểm này.

Trong bất kỳ liệu pháp tâm lý nào, điều quan trọng bậc nhất là thiết lập được mối quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân tốt từ đó bệnh nhân sẽ tự nguyện bộc lộ nội tâm và tuân thủ những chỉ dẫn chủa thầy thuốc. Thứ đến là áp dụng liệu pháp nâng đỡ (trấn an, giải thích, hướng dẫn, khuyến khích, lắng nghe v.v) rồi cuối cùng mới áp dụng các liệu pháp tâm lý đặc hiệu.

Sau đây xin lần lượt trình bày các liệu pháp gia đình, liệu pháp nhận thức tập tính và cộng đồng điều trin là những liệu pháp đặc hiệu được quan tâm hàng đầu trong điều trị nghiện heroin ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.

III. LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

Liệu pháp gia đình cũng như các liệu pháp nhận thức – tập tính, liệu pháp tâm lý nhóm là những lĩnh vực chuyên sâu cần được đào tạo lâu dài về lý thuyết và thực hành mới có thể đem lại kết quả tối đa. Trong hoàn cảnh nước ta, thầy thước chuyên sâu về liệu pháp tâm lý đang còn ít nên ở đây chỉ đề cập đến các nguyên tắc điều trị chuyên sâu và giới thiệu qua các liệu pháp thông thường và giản đơn cho các thầy thuốc không chuyên sâu. Trong liệu pháp gia đình cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Đối với nghiện ma túy, có 2 cách tiếp cận được quan tâm nhiều nhất:

– Tiếp cận theo mô hình gia đình hệ thống

_ Tiếp cận theo mô hình gia đình bị bệnh

1. Cách tiếp cận theeo mô hình gia đình hệ thống

– Gia đình xem như một hệ thống, mỗi thành viên trong gia đình tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ theo quy luật của một hệ thống.

– Gia đình là một nhân tố thúc đầy quá trình nghiện ma túy. Nghiện ma túy thường xuất hiện vào những thời điểm gia đình có vấn đề gây tress (ly dị, ly thân, xung đột, kiện cáo, tai nạn v.v).

– Đối tượng nghiện ma túy tác động trở lại các thành viên trong gia đình, gây các rối loạn về chức năng, ranh giới, trật tự v.v… đặc việt làm mất cân bằng trong sự hằng định nội môi của gia đình.

– Như vậy liệu pháp gia đình nhằm điều trị gia đình như một hệ thống chứ không riêng thành viên nghiện ma túy, phải cùng các thành viên tìm các nhân tố chủ yếu gây mất cân bằng nội môi và tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng này.

2. Cách tiếp cận theo mô hình gia đình bị bệnh

– Cách tiếp cận này xem nghiện ma túy là một bệnh và tác động qua lại lâu ngày giữa các thành viên nghiện và các thành viên khác sẽ gây ra nhiều biến đổi về tập tính, về thái độ ứng xử, về nhận thức v.v… mang tính chất bệnh lý (bệnh lý tâm thần là chủ yếu) cho những thành viên khác trong gia đình.

– Các hiện tượng có tính bệnh lý thường gặp:

+ Hiện tượng từ chối: Các thành biên trong gia đình không thừa nhận tính chất tai hại của nghiện ma túy (vợ bảo vệ cho chồng, mẹ bảo vệ cho con).

+ Hiện tượng dung túng: Các thành viên tạo điều kiện thuận lợi cho thành viên nghiện tiếp tục sử dungh heroin (cho tiền, tránh kiểm tra những việc làm ngoài gia đình của đối tượng, xin cho đối tượng khỏi đến các trung tâm điều trị bắt buộc v.v). Dung túng và từ chối có liên quan chặt chẽ với nhau.

+ Hiện tượng cùng lệ thuộc: Thường là vợ hay mẹ của đối tượng có hiện tượng này. Thành viên gai đình có hiện tượng cùng lệ thuộc chăm lo quá mức cho đối tượng nghiện, tổ chức cuộc sống của mình xoay quanh đối tượng, lơ là đối với thành viên khác và cả đối với bản thân.

Tất cả những hiện tượng nói trên là những trở ngại lớn cho quyết tâm từ bỏ heroin của thành viên nghiện.

3. Các nguyên tắc điều trị chuyên sâu

Liệu pháp gia đình là một loại liệu pháp tâm lý rất khó thực hiện vì phải tiếp xúc riêng với từng thành viên và họp chung với toàn gia đình, phải biết cách làm cho tất cả đều tự nguyện hợp tác, không bỏ cuộc.

Do vậy, nhà điều trị tâm lý:

– Phải biết thu thập thông tin chi tiết từ bệnh nhân và các thành viên gia đình để cấu trúc lại một cách đầy đủ và chính xác trạng thái bệnh lý của bệnh nhân cũng như của các thành viên khác. Từ đó mới đề ra được chiến lược điều trị có hiệu quả.

– Phải phát hiện những nhân tố làm mất cân bằng nội môi xuất hiện trước và sau khi một thành viên bị nghiện.

– Phải khám phá các hiện tượng từ chối, dung túng hay cùng lệ thuộc của các thành viên và đề ra các việ pháp khắc phục (thí dụ: biện pháp tách rời ảnh hưởng giữa thành viên nghiện và thành viên cùng lệ thuộc).

– Phải dần dần đưa thành viên nghiện và các thành viên khác đến chỗ thống nhất thực hiện hợp đồng dài hạn "từ bỏ heroin và chống tái nghiện" với các biện pháp cụ thể và khả thi.

Muốn đạt được các nguyên tắc hay mục tiêu nêu ra ở trên nhà điều trị tâm lý phái sử dụng nhiều phương pháp và kỹ năng tâm lý (không có điều kiện mô tả ở đây).

4. Các biện pháp không chuyên sâu

Các biện pháp này không thực hiện riêng lẻ mà thường kết hợp với liệu pháp methadone hay naltrexone để đạt được kết quả cao. Có thể do thầy thuốc không chuyên khoa tâm thần thực hiện.

a. Trong điều trị ngoại trú tại cộng đồng, đối với mỗi bệnh nhân nghiện heroin, yêu cầu phải có một thành viên gia đình đi kèm. Thành viên này phải chọn trong những người mà bệnh nhân tôn trọng và tín nhiệm.

b. Thành viên gia đình đến mấy lần trong tuần và mỗi lần trong thời gian bao lâu sẽ được quy định thông qua bàn bạc giữa thầy thuốc và thành viên gia đình.

c. Trường hợp đặc biệt trong gia đình có thành viên xung đột sâu sắc với bệnh nhân gây trở ngại cho tiến trình điều trị thì thầy thuốc sẽ dành thì giờ gặp thêm thành viên này.

d. Bệnh nhân và thành viên gia đình phải được thầy thuốc giải thích đầy đủ về:

  • Tác hại của nghiện heroin.
  • Nhu cầu cấp thiết phải sớm được điều trị và điều trị lâu dài.
  • Các điều kiện cần thiết để có thể bỏ hẳn heroin.
  • Các bước trong kết hoạch điều trị.
  • Những điều mà bệnh nhân và thành viên gia đình nhất thiết phải tuân thủ thực hiện.

​đ. Sau kho được giả thích, bệnh nhân và thành viên gia đình phải có đơn tự nguyện xin điều trị và tự nuyện chấp hành nội quy điều trị của Trung tâm.

e. Thành viên gia đình và bệnh nhân được thông báo về các hình thức khen thưởng khi bệnh nhân thực hiện tốt nội quy điều trị và xử phạt khi không thực hiện. Gia đình có phần đóng góp trong các hình thức khen thưởng và xử phạt này.

g. Thành viên gia đình phải thường xuyên thông báo với thầy thuốc về các hành vi không bình thường của bệnh nhân tại gia đình và tại cộng đồng nhất là hành vi sử dụng lại heroin.

h. Thầy thuốc giải thích cho thành viên gia đình về hiện tượng "từ chối", "dung túng" , "cùng lệ thuộc" cũng như các rối loạn trong gia đình (mât tôn ti trật tự, thành viên không thực hiện những chức năng của mình, trở ngại và bế tắc trong tiếp xúc giữa các thành vien v.v) và yêu cầu phát hiện và thông báo đầy đủ các hiện tượng và rối loạn trên.

i. Thầy thuốc cùng thành viên gia đình bàn bạc về kế hoạch giải quyết dần dần từng bước các hiện tượng và rối loạn trên bằng những biện pháp phù hợp với các điều kiện cụ thể của gia đình.

IV. LIỆU PHÁP NHẬN THỨC TẬP TÍNH

Lúc đầu liệu pháp tập tính và liệu pháp nhận thức là hai liệu pháp tâm lý riêng biệt, do những tác giả khác nhau khởi xướng, mỗi liệu pháp được xây dựng trên cơ sở lý thuyết riêng.

Về sau qau quá trình thực hành trong nhiều thập kỷ, đa số tác giả nhận thấy hai liệu pháp này có tác dụng bổ sung cho nhau và có thể kết hợp chặt chẽ với nhau nên lồng ghép vào nhau và đặt tên chung là liệu pháp nhận thức – tập tính.

1. Liệu pháp tập tính đối với nghiện heroin

Các nhà điều trị tập tính xem nghiện ma túy như là một tập tính lệch lạc hình thành trên cơ sở tập nhiễm trong môi trường xã hội, theo cơ chế phản xạ có điều kiện đáp ứng của Pavlov và phản xạ có điều kiện thực thi của Skinner. Đã là hành vi tập nhiễm thì nghiện ma túy có thể loại trừ băng các kỹ thuật khử điều kiện và khử tập nhiễm.

Từ đó nhiều kỹ thuật tập tính đã được áp dụng có kết quả trong điều trị nghiện heroin ở nhiều nước trên thế giới.

Tuy nhiên một nược điểm của liệu pháp tập tính là qua chú trọng vào biểu hiện bề mặt của tập tính lệch lạc và không quan tâm đúng mức đến nhân tố chiều sâu là nguồn gốc nhận thức của rối loạn tập tính. Chính vì thế mà nó cần được liệu pháp nhận thức bổ sung.

2. Liệu pháp nhận thức đối với người nghiện heroin

Các nhà điều trị nhận thức cho rằng mọi tập tính (hay hành vi) đều có mối liên quan mật thiết với quá trình nhận thức. Từ nhận thức sinh ra cảm xúc và từ cảm xúc phát sinh hành vi (hay tập tính). Một ví dụ: một bà nội trợ đang từ nhà đi ra chợ bỗng thấy mây đen kéo trời sinh ra ý nghĩ "trời sắp mưa to" (nhận thức) rồi cảm thấy lo lằng về quần áo đang phơi ở nhà (cảm xúc) và chạy vội về nhà (hành vi).

Tập tính sử dụng heroin cũng như những hành vi lệch lạc trong quá trình điều trị (từ chối, chống đối, bỏ cuộc, sử dụng lại heroin v.v…) cũng thường phát ính từ những nhận thức lệch lạc rất đa dạng/

– Có những ý nghĩ lệch lạc dễ nhận dạng

+ Ý nghĩ lệch lạc tiêm nhiễm qua tiếp xúc với những đối tượng nghiện cùng nhóm.

+ Ý nghĩ lệch lạc do các quá trình tư duy không đúng như: suy luận độc đoán, khái quát hóa quá rộng. trừu tượng hóa chọn lọc, phóng đại hay thu nhỏ quá mức, liên hệ vào mình vô căn cứ v.v…

– Có những ý nghĩ lệch lạc khó nhận dạng nên xem như là tự phát (hay tự động). Thực ra chúng thường xuất hiện có liên quan đến những hoàn cảnh có sang chấn tâm lý nặng nề (xung đột trong gia đình, thái độ xúc phạm của cộng đồng v.v).

Phát hiện những ý nghĩ lệch lạc nói trên, đặc biệt những ý nghĩ lệch lạc tự phát, là mục tiêu chủ yếu của liệu pháp nhận thức.

Còn sửa chữa những hành vi sai trái xuất hiện từ những ý nghĩ lệch lạc thì phải sử dụng cả những kỹ thuật  nhận thức lẫn những kỹ thuật tập tính. Đó cũng  là lý do cần sát nhập hai liệu pháp này.

3. Các kỹ thuật nhận thức và tập tính chuyên sâu

a. Các kỹ thuật nhận thức

– Hướng dẫn bệnh nhân phan tích cái hại khi sử dụng heroin.

– Xác định và hướng dẫn bệnh nhân quy kết trách nhiệm nghiện heroin vào bản thân.

– Hướng dẫn bệnh nhân ghi lại hoạt động tư duy hàng ngày, chú trộng đến các ý nghĩ tự phát.

– Hướng dẫn bệnh nhân tưởng tượng những hình ảnh có liên quan đến sử dụng heroin và thay thế dần bằng những hình ảnh tích cực, lạc quan, dễ chịu.

b. Các kỹ thuật tập tính

– Phương pháp gây ghét sợ heroin (dùng kích thích điện hay apomorphine).

– Giải cảm ứng có hệ thống (đối với cảm giác nhớ và thèm heroin).

– Huấn luyện thư giãn luyện tập (của Viện Sức khỏe Tâm thần) nhằm giải lo âu và giải thèm heroin.

– Liệt kê và giám sát hoạt động hằng ngày có dính líu đến heroin.

– Thử nghiệm các ý tưởng lệch lạc (mà bệnh nhân tin là đúng) về sử dụng heroin.

– Lập lại tập tính (hay đóng vai diễn) nhằm loại trừ dân tập tính lệch lạc và hình thành những phương thức ứng xử có hiệu quả.

– Giao làm bài tập ở nhà có nhiều mức độ (thí dụ: các tìm những người bạn mới thay cho bạn nghiện cũ).

– Huấn luyện cách giải quyết những vấn đề khó xử.

– Áp dụng kỹ thuật tăng cường (hay củng cố) dương tính (thí dụ: khen thưởng) và tăng cường âm tính (thí dụ: phê bình, xử phạt).

– Huấn luyện phương pháp khẳng định bản thân (nhằm ứng phó với sự lôi kéo của bạn nghiện trong nhóm).

4. Các phương pháp tâm lý không chuyên sâu

a. Các biện pháp nhận thức

– Áp dụng phương pháp giải thích hợp lý thông dụng và đơn giản nhằm chỉnh lý những nhận thức lệch lạc và bổ sung những nhận thức đúng cho bệnh nhân nghiện heroin

– Giải thích phải hợp lý và có nghĩa là nội dung giải thích phải phù hopwk với các đặc điểm bệnh lý, đặc điểm nhân cách và trình độ tiếp thu của bệnh nhân.

– Tùy trường hợp có thể giải thích riêng cho một bệnh nhân hay giải thích cho cả nhóm trong buổi sinh hoạt chung.

– Nội dung giải thích có thể đề cập đến những vấn đề như:

+ Tác hại nhiều mặt của nghiện heroin.

+ Có thể từ bỏ hẳn heroin và những điều kiện để từ bỏ hẳn.

+ Những nguyên nhân thường gây trở ngại cho việc  từ bỏ hẳn heroin.

+ Vai trò quyết định của bản thân bệnh nhân trong quá trình từ bỏ heroin (ý muốn từ bỏ, quyết tâm từ bỏ và kiên trì từ bỏ).

+ Những ý tưởng lệch lạc (mà bệnh nhân tin là đúng) có liên quan đến nghiện heroin và điều trị nghiện heroin.

b. Các biện pháp tập tính

– Áp dụng liệu pháp thư giãn luyện tập (có thể tham gia tập luyện tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai).

– Giao cho bệnh nhân thực hiện bài tập ở nhà (thí dụ: tập các giai đoạn tìm bạn mới dể thay thế bạn nghiện cũ, tập các trả lời trước sự lôi kéo của bạn nghiện cũ).

– Áp dụng phương pháp tăng cường dương tính (thí dụ: khen thưởng trong sinh hoạt nhóm) và tăng cường âm tính (thí dụ: phê bình hay xử phạt trong sinh hoạt nhóm) nhất là đối với những người sử dụng lại heroin.

– Thảo luận nhóm về cách giải quyết những khó khăn có liên quan đến nghiện heroin.

V. PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG ĐIỀU TRỊ

Phương pháp (hay chương trình) cộng đồng điều trị được phân loại vào nhóm tự giúp nhau (self – help group) chứ không xếp vào nhóm liệu pháp tâm lý đích thực và đặc hiệu vì vai trò chủ yếu ở đây là các bệnh nhân tự tác động qua lại với nhau còn thầy thuốc không có vai trò gì hoặc chỉ có vai trò tư vấn ẩn.

Chương trình cộng đồng điều trị đầu tiên do Deiderich khởi xướng vào cuối năm 1954.

1. Cơ sở lý thuyết của phương pháp

– Bệnh nhân nghiện ma túy được xem như là những nhân cách chưa trưởng thành và có tập tính xâm phạm.

– Do đó cần được đưa vào một tổ chức có cấu trức và hoạt động chặt chẽ nhằm động viên khía cạnh tích cực của nhân cách để biến đổi tập tính tai hại (sử dụng chất ma túy).

2. Chỉ định điều trị chính

– Những bệnh nhân nghiện ma túy mà nhân cách còn có khía cạnh tích cực, đã được điều trị bằng các phương pháp khác nhưng không có kết quả.

3. Mục tiêu điều trị

– Rèn luyện nhân cách và biến đổi nếp sống/

– Đề cao tinh thần trách nhiêm đối với cộng đồng.

– Khai thác và tằng cường các khía cạnh hướng thiện của bệnh nhân.

– Xây dụng dần và củng cố quyết tâm từ bỏ chất ma túy.

4. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

– Bệnh nhân tự nguyện xin vào sống trong cộng đồng từ 6 đến 18 tháng.

– Điều khiển chương trình là những bệnh nhân cũ đã điềut trị thành công tại cộng đồng điều trị này và tự nguyện ở lại phục vụ.

5. Sinh hoạt và hoạt động

– Các thành viên của cộng đồng điều trị phải tham gia các dịch vụ phục vụ đời sống của cộng đồng.

– Còn phải tham gia các hoạt động phục hồi chức năng tâm lý xã hội và các sinh hoạt nhóm trong cộng đồng.

6. Nội dung sinh hoạt nhóm

– Sinh hoạt nhóm mang tính chất đối đầu: phân tích và phê phán những tập tính và thái độ sai trái của các thành viên trong cộng đồng.

– Đối đầu nhưng vẫn phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Thông cảm với hoàn cảnh của nhau.

+ Biểu hiện tình cảm thân thiết như những người trong cùng một gia đình.

+ Luôn tôn trọng nhân cách và tự do cá nhân của các thành viên khác.

+ Bảo đảm sinh hoạt vật chất đầy đủ.

– Nghiêm cấm

+ Dùng lại chất ma túy.

+ Gây gổ hay xâm phạm thành viên khác.

+ Nếu bi phạm sẽ phải chịu kỷ luật do tập thể bỏ phiếu (từ phê bình đến loại trừ ra khỏi cộng đồng).

– Các thành viên tự điều khiển chương trình, không có vai trog của thầy thuốc. Nếu có, chỉ là vai trò tư vấn ẩn phía sau.

– Không sử dụng các liệu pháp sinh học.

7. Kết quả điều trị của phương pháp này trong thời kỳ đầu

+ 90 ngày đầu: 50% bỏ cuộc.

+ 6 tháng đầu: 70% bỏ cuộc.

+ 12 tháng đầu: 90% bỏ cuộc.

8. Các cải tiến gần đây

– Chính phủ nhiều nước áp dụng chính sách mền dẻo đối với các đối tượng vi phạm pháp luật nhẹ: nếu đến điều trị tại các cộng đồng điều trị khỏi bị giam; nếu điều trị khỏi thì được trở về nhà không phải chịu án hình sự.

– Nhiều cộng đồng điều trị không áp dụng phương thức đối đầu cứng rắn nhất là đối với thanh thiếu niên.

– Do vậy, hiện nay chương trình cộng đồng điều trị vẫn tồn tại ở nhiều nước, số người xin vào ngày càng tăng, số người bỏ cuộc ngày càng giảm.

– Ở nước ta, phương thức điều trị bắt buộc tại cái trung tâm Lao động thương binh và xã hội có một số điểm gần gũi với chương trình cộng đồng điều trị, có thể nghiên cứu mô hình này nhằm cải tiến tổ chức và phương pháp điều trị để kết quả đặt được cao hơn.

VI. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁC CÓ TÁC ĐỘNG TÂM LÝ

Thông tư liên bộ Y tế Lao động thương binh xã hội còn đề cập đến một số phương pháp sau đây cũng có ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý các bệnh nhân nghiện heroin cần được tham khảo áp dụng:

– Liệu pháp tâm lý tập thể (giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách).

– Liệu pháp tâm lý nhóm (trao đổi tâm tư thắc mắc giúp nhau sửa chữa sai lầm).

– Liệu pháp tâm lý cá nhân (hoạt động tư vấn cho từng bệnh nhân).

– Chính phủ nhiều nước áp dụng chính sách mền dẻo đối với các đối tượng vi phạm pháp luật nhẹ: nếu đến điều trị tại các cộng đồng điều trị thì khỏi bị giam; nếu điều trị khỏi thì được trở về nhà không phải chịu án hình sự.

– Nhiều cộng đồng điều trị không áp dụng phương thức đối đầu cứng rắn nhất là đối với thanh thiếu niên.

– Do vậy, hiện nay chương trình cộng đồng điều trị vẫn tồn tại ở nhiều nước, số người xin vào ngày càng tăng, số người bỏ cuộc ngày càng giảm.

– Ở nước ta, phương thức điều trị bắt buộc tại các trung tâm Lao động thương binh và xã hội có một số điểm gần gũi với chương trình cộng đồng điều trị, có thể nghiên cứu mô hình này nhằm cải tiến tổ chức và phương pháp điều trị để kết quả đạt được cao hơn.

VI. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁC CÓ TÁC ĐỘNG TÂM LÝ

Thông tư liên bộ Y tế Lao động thương binh xã hội còn đề cập đến một số phương pháp sau đây cũng có ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý các bệnh nhân nghiện heroin cần được tham khảo áp dụng:

– Liệu pháp tâm lý tập thể (giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách).

– Liệu pháp tâm lý nhóm (trao đổi tâm tư thắc mắc giúp nhau sửa chữa sai lầm).

– Liệu pháp tâm lý cá nhân (hoạt động tư vấn cho từng bệnh nhân).

– Liệu pháp lao động, dạy nghề, tạo việc làm.

– Tổ chức thể thao thể dục, vui chơi giải trí.

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

GIỚI THIỆU VỀ TƯ VẤN

Tác giả

  • Tiến sĩ Robert Ali, Giám đốc trung tâm Hợp tác nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới về Điều trị nghiện ma túy và rượu, Đại học Adelaide, Australia.
  • Thạc sĩ Vương Thị Thu Hương, Quản lí chương trình, FHI Việt Nam
  • Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Tố Như, Quản lí chương trình, FHI Việt Nam
  • Thạc sĩ Phạm Thị Hương, nguyên Trưởng bộ phận Can thiệp trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao, Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kì (CDC) tại Việt Nam
  • Tiến sĩ Kelvin Mulvey, nguyên Cố vấn kĩ thuật cấp cao, FHI Việt Nam
  • Thạc sĩ, Bác sĩ Hoàng Nam Thái, Cán bộ chương trình, FHI Việt Nam
  • Hiệu đính: Thạc sĩ, Bác sĩ Hoàng Nam Thái

Mục tiêu bài học

  • Nêu được định nghĩa về tư vấn
  • Hiểu được bối cảnh của tư vấn
  • Hiểu được những quan niệm sai lầm hiện nay về sử dụng ma túy (SDMT) và người SDMT
  • Phân biệt được tư vấn với giáo dục sức khỏe
  • Nêu được phẩm chất của một tư vấn viên giỏi

I. Bối cảnh tư vấn

1. Người sử dụng ma túy:

  • Thường bị xã hội kỳ thị, phân biệt đối xử và không được cộng đồng chấp nhận.
  • Thường bị coi như là tội phạm, là đồ bỏ đi và là mục tiêu để xã hội trút lên mọi sự giận dữ và sợ hãi.

2. Người SDMT thường lo lắng về điều gì?

  • Bị phân biệt đối xử
  • Tương lai
  • Sợ người khác nói về việc họ SDMT
  • Thiếu tiếp cận với điều trị
  • Cho rằng tư vấn cũng chẳng thay đổi được gì
  • Thiếu chăm sóc điều trị khi ốm đau (đặc bieeth là HIV/AIDS)

II. Những hiểu lầm về sử dụng ma túy

  • Những người sử dụng ma túy là những người "yếu kém về đạo đức"
  • "Nghiện là vô phương cứu chữa"
  • "Tất cả những người SDMT đều là những người nghiện ma túy"
  • "Tất cả những người SDMT đều là tội phạm"

III. Tư vấn là gì?

Tư vấn là một quá trình trao đổi tương tác giữa tư vấn viên và khách hàng nhằm giúp khách hàng tự tìm hiểu về những khó khăn của họ một cách bảo mật và nâng cao năng lực cho khách hàng để họ có thể tự giải quyết những khó khăn đó.

IV. Mục đích của tư vấn

  • Giúp khách hàng tự chịu trách nhiệm với cuộc đời họ, bằng cách:

    • Phát triển khả năng ra quyết định một cách khôn ngoan và thực tế
    • Hỗ trợ họ thay đổi hành vi để đạt được những kết quả mong muốn
    • Cung cấp thông tin để ra quyết định chín chắn
  • Tư vấn có thể thực hiện với từng cá nhân, tư vấn cho cặp vợ chồng, tư vấn cho nhóm hoặc tư vấn cho gia đình.

V. Tư vấn không phải là

  • Chỉ bảo hoặc ra lệnh
  • Một buổi nói chuyện
  • Một buổi tra hỏi
  • Một buổi thú tội
  • Một buổi cầu nguyện

VI. Sự khác biệt giữa tư vấn và giáo dục sức khỏe

Tư vấn Giáo dục sức khỏe
Bảo mật Thường là không bảo mật
Thường là "một người với một người" hoặc là với một nhóm nhỏ Nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn
Phát sinh những tình cảm mạnh mẽ đối với cả khách hàng và tư vấn viên Tình cảm ở mức trung bình
Tư vấn viên chú ý lắng nghe và phản hồi Người GDVSK nói nhiều hơn
Tập trung, cụ thể và có mục tiêu Chung chung
Thông tin được dùng để thay đổi thái độ và khuyến khích thay đổi hành vi Thông tin được dùng để giáo dục và nâng cao kiến thức
Tập trung vào vấn đề Tập trung vào nội dung
Dựa trên các nhu cầu của khách hàng Dựa trên các nhu cầu của y tế công cộng

 

VII. Những phẩm chất của một tư vấn viên giỏi

  • Có óc sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú
  • Thực tế
  • Tôn trọng khách hàng
  • Chú trọng vào hành động
  • Không áp đặt quan điểm hoặc mối quan tâm của mình lên khách hàng

VIII. Những điều cần tránh

  • Lên mặt đạo đức
  • Ra lệnh
  • Đe dọa
  • Tranh cãi
  • Phản đối
  • Suy diễn thái quá
  • Đồng cảm
  • Phán xét

IX. Tóm tắt

  • Tư vấn giúp khách hàng tự chịu trách nhiệm với cuộc đời họ.
  • Dịch vụ tư vấn có thể dành cho cá nhân, cặp vợ chồng hoặc cả gia đình.
  • Một tư vấn viên giởi cần có tính sáng tạo, có trí tưởng tượng phong phú, có thuong pháp thực tế, thể hiện sự tôn trọng khách hàng, chú trọng vào hành động và không áp đặt quan điểm một cách chủ quan.
  • Tư vấ có bản chất khác hẳn so với giáo dục sức khỏe

 

TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

  1. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 1
  2. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 2
  3. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 3
  4. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 4
  5. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 5
  6. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 6
  7. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 7
  8. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 8
  9. TÀI LIỆU TẬP HUẤN VỀ TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CHƯƠNG 9

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

tamlythuchanh.com

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

1. Quan niệm gia đình như một hệ thống:

Trong lý thuyết tổng quát của những hệ thống thì hệ thống gồm một cấu trúc với yếu tố tạo thành một hệ thống. Những yếu tố được vận hành theo một quy tắc nhất định. Hệ thống này lại được mở ra, trao đổi với môi trường là hệ thống rộng lớn hơn theo một quy tắc nhất định.

Ở liệu pháp gia đình: gia đình là một hệ thống với mỗi thành viên trong gia đình là các yếu tố cấu thành hệ thống và tác động lẫn nhau.

Khi một yếu tố của hệ thống thay đổi thì tất cả thay đổi. Đó là do tất cả những yếu tố của hệ thống gia đình đều liên hệ mật thiết với nhau. Trong một gia đình, khi một biến cố bề ngoài chỉ ảnh hưởng đến một phần tử, nhưng chính nó lại rung động trên những phần tử khác của gia đình đó.

Một hệ thống không phải đơn giản là tổng số yếu tố kết thành hệ thống đó. Thêm vào mỗi đặc tính cá biệt của mỗi người là quy củ của một gia đình, là những mối quan hệ giữa các phần tử khác nhau trong gia đình và với những người xung quanh.

Trong một hệ thống cởi mở, những quan hệ được giao tiếp theo vòng tròn, không phải theo đường thẳng.

 

Mỗi phần tử của gia đình vừa bị tác động, vừa chủ động trong mối quan hệ hợp nhất họ với những người khác.

Hoàn cảnh hiện tại của một hệ thống (gia đình) có thể xuất phát từ vô số những phản ứng qua lại.

Thí dụ:

Sự việc một phần tử gia đình có những rối loạn mang hình thái phân liệt, không thể chỉ liên quan đến một nguyên nhân duy nhất. Điều này phụ thuộc vào gia đình, vào tổ chức của gia đình, vào lịch sử của gia đình và cùng một bệnh lý có thể do nhiều nguyên nhân.

Khi người ta thử biến đổi một hệ thống (gia đình) thì hệ thống ấy nảy sinh những tác động phản hồi để chống lại sự thay đổi. Đây là khuynh hướng đạt đến cân bằng nội tại của gia đình.

Một hệ thống cởi mở bị phụ thuộc vào những ảnh hưởng của môi trường trong đó hệ thống đang tồn tại. Hệ thống có thể duy trì bằng cách thích nghi với những thay đổi bên ngoài. Một gia đình không đủ khả năng thích nghi với những thay đổi của xã hội, sẽ không còn lối thoát, bế tắc.

Vậy có thể nói: khả năng sinh tồn của một gia đình phụ thuộc vào khả năng đạt đến cân bằng trong nội bộ và năng lực thích nghi với môi trường.

2. Khái niệm bệnh nhân được chỉ định:

Trong liệu pháp gia đình hệ thống, người ta coi như không có cá nhân thành viên bệnh hoạn, mà đúng ra là một phần tử của gia đình được chỉ định để phơi bày ra những triệu chứng được coi là một tổng hợp của một sự trục trặc trong gia đình.

3. Tìm kiếm cơ sở nội tại gia đình của triệu chứng :

Trong trị liệu gia đình, nhà trị liệu cần tìm hiểu:

Cái gì đã cho phép triệu chứng xuất hiện ở thân chủ?

Cái gì đã cho phép một ứng xử mà cả một gia đình phàn nàn vẫn tồn tại?

Đó là triệu chứng có cơ sở của một nội tại của gia đình. Làm sáng tỏ điều đó là điều cần thiết giúp nhà điều trị hiểu được sự vận hành của gia đình, trước khi can thiệp.

Do vậy phương pháp điều trị là điều trị toàn bộ gia đình thay vì chỉ điều trị người bệnh được chỉ định. Mục đích của liệu pháp gia đình hướng tới việc làm thay đổi các mối quan hệ giữa các nhân cách trong gia đình để giúp loại trừ các triệu chứng bệnh lý, cũng  như để đạt tới sự thích nghi xã hội hơn.

Kỹ thuật tiến hành là thông qua tiếp xúc tâm lý với các thành viên trong gia đình. Thông qua tọa đàm tâm lý chung, thầy thuốc phát hiện ra các stress, các rối loạn mối tương quan cảm xúc giữa các thành viên trong gia đình. Từ đó thiết lập lại sự cân bằng bên trong gia đình

 

        Gia đình mất hài hòa                                             Gia đình mất cân bằng  

4. Một số quy trình kỹ thuật.

4.1.Quy trình liệu pháp gia đình

4.1.1.Mục tiêu.

– Phát hiện và huy động các nguồn lực và tiềm năng của sự thay đổi và tiến hoá của gia đình.

– Hỗ trợ sự phát triển và tạo sự thoải mái nhất cho mỗi cá nhân bằng cách tạo mối quan hệ tốt nhất với các thành viên.

 4.1.2.Nguyên lý.

Cơ sở lý thuyết của trị liệu gia đình là thuyết hệ thống và thuyết về giao tiếp. Do vậy có thể coi trị liệu gia đình là trị liệu hệ thống, là một dạng đặc biệt của trị liệu nhóm. Các nhà hệ thống quan niệm người bệnh chỉ là biểu hiện các triệu chứng của toàn bộ hệ thống, vấn đề cốt lõi là cần tác động vào cả hệ thống, tái cấu trúc lại các rối loạn của hệ thống, qua đó hệ thống có tác dụng điều chỉnh tình trạng bệnh lý của người bệnh.

Trong suốt quá trình trị liệu, nhà trị liệu hệ thống luôn quan tâm các khía cạnh cần khai thác :

– Tìm hiểu các sự kiện;

– Nội tâm cá nhân;

– Khuôn mẫu về hành vi giao tiếp;

– Đạo lý về mối quan hệ.

4.1.3.Chỉ định, chống chỉ định

– Chỉ định rộng rãi với tất cả các bệnh lý tâm thần.

4.1.4.Kỹ thuật trị liệu

Về quy trình của một phiên trị liệu hệ thống thường có 4 giai đoạn cơ bản.

Giai đoạn tìm hiểu, thâm nhập vào gia đình :

 Mục tiêu:

– Nhằm phát hiện các yếu tố duy trì trạng thái rối nhiễu tâm lý của người bệnh do các quan hệ giao tiếp không thuận lợi trong gia đình gây ra.

Ở bước này nhà trị liệu cần chẩn đoán tâm lý gia đình ở hai mức độ:

– Chẩn đoán hiện trạng nhằm xác định trạng thái hiện tại của các mối quan hệ gia đình, là những biểu hiện bệnh lý hiện tại ở người bệnh và trong các mối quan hệ gia đình có liên quan tới người bệnh.

– Chẩn đoán bệnh sinh và những nguyên nhân dẫn tới bệnh . Các cứ liệu cần thiết có thể được thu thập qua những buổi phỏng vấn, trò chuyện với từng thành viên gia đình.

 Kỹ thuật :

Trong gia đoạn này nhà trị liệu có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để khai thác tình trạng bệnh lý của người bệnh và những vấn đề của hệ thống :

– Trò chuyện, quan sát;

– Kỹ thuật xây dựng cây phả hệ, khai thác ranh giới, mối quan hệ giữa các thành viên;

– Thực hiện các test tâm lý, đặc biệt test vẽ gia đình;

– Quan sát tại nhà…

Giai đoạn xác định chiến lược trị liệu:

Mục tiêu :

– Tìm hiểu sâu thêm về các vấn đề của hệ thống, các thành viên trong hệ thống. Qua đó xây dựng chiến lược trị liệu cho cả tiến trình và các kỹ thuật cho từng thành viên. Đây là giai đoạn xây dựng chiến lược trị liệu.

– Thiết lập khung trị liệu, hợp đồng trị liệu với gia đình.

Kỹ thuật :

Giai đoạn này nhà trị liệu cần tái cấu trúc lại hệ thống, qua đó đề ra giả thuyết cho tiến trình trị liệu.

Các kỹ thuật sử dụng trong giai đoạn này: Kỹ thuật giải thích hợp lý, các kỹ thuật tham vấn, thảo luận giữa nhà trị liệu và gia đình bệnh nhân, thảo luận giữa các nhà trị liệu thực hiện trong suốt quá trình.

Đây có thể coi là bước chuyển tiếp quan trọng giúp ekip trị liệu xác định đúng hướng trị liệu. Muốn thực hiện tốt điều đó, ekip trị liệu cần thực hiện một số yêu cầu kỹ thuật sau:

– Đưa ra được giả thuyết về hệ thống;

– Thiết lập được khung trị liệu và xác định các kỹ thuật trị liệu cho từng thành viên và cả hệ thống trong từng giai đoạn;

– Hợp đồng điều trị.

Giai đoạn tiến hành tổng thể các liệu pháp :

Mục tiêu :

Ở giai đoạn này, nhà trị liệu cần phải đáp ứng được tiến trình trị liệu với các kỹ thuật liệu pháp đáp ứng được khung trị liệu đã xây dựng ở giai đoạn hai, đồng thời xử lý phù hợp các yếu tố phát sinh.

Kỹ thuật :

Giai đoạn này nhà trị liệu nên tiến hành đồng thời các kỹ thuật liệu pháp đã được xác định với từng thành viên gia đình.

– Kỹ thuật thảo luận gia đình;

– Trị liệu nhận thức hành vi;

– Kỹ thuật video mini trong trị liệu hệ thống;

– Kỹ thuật cái ghế trống;

– Kỹ thuật tâm kịch;

– Trị liệu trò chơi, hình vẽ;….

Giai đoạn kết thúc trị liệu:

Mục đích :

Hoàn tất đợt điều trị theo đúng hợp đồng

Cùng gia đình xây dựng chiến lược ứng phó với các tình huống có thể dẫn tới rối loạn hệ thống.

Kỹ thuật :

– Tổng kết và cấu trúc lại hệ thống bị rối loạn

– Hợp đồng chăm sóc gia đình thường xuyên.

4.2.Kỹ thuật xây dựng cây phả hệ

 Mục tiêu.

– Khai tác các sự kiện, thông tin của hệ thống gia đình thân chủ một cách có chiều sâu và rõ ràng, từ đó có tác dụng như một kỹ thuật giúp chẩn đoán tình trạng của gia đình.

– Giúp thân chủ và các thành viên có nhận thức đúng về cấu trúc gia đình, các mối quan hệ gia đình từ đó thay đổi nhận thức. Bên cạnh đó, khi khai thác sơ đồ phả hệ có tác dụng như một kỹ thuật nhằm bộc lộ những vấn đề nội tâm của gia đình.

– Qua làm việc trên sơ đồ phả hệ giúp nhà trị liệu và thân chủ tạo mối quan hệ tốt đẹp, cảm thông. Qua đó, giúp nhà trị liệu đi sâu vào gia đình của thân chủ, đây là kỹ thuật trong bước 1.

Chất liệu cho việc xây dựng sơ đồ phả hệ.

+ Các thông tin gia đình, thành viên trong gia đình, các mối quan hệ,…

+  Các ký hiệu:

 

Chú ý :

– Ghi chú chết do nguyên nhân nào ( bệnh, tự tử,…)

– Ghi kết hôn năm nào.

– Sống tại địa điểm do di cư ( kinh tế, đi học,…)

– Gia đình nhỏ chịu tác động bối cảnh của gia đình lớn và xã hội.

– Bí mật liên quan đến chính trị, con ngoài giá thú, trong nhà có người tự tử….

+ Xác định ranh giới của tiểu hệ thống :

– Ranh giới cứng ngắc : ……………Kiểu hệ thống khép kín không giao tiếp bên ngoài.

– Ranh giới không rõ ràng : ……………Kiểu hệ thống chia sẻ hết tất cả.

– Ranh giới rõ ràng : …………….. Kiểu hệ thống tuỳ lúc có chia sẻ, có sự tôn trọng lẫn nhau.

– Các ranh giới này  tuỳ thuộc vào sự tiến triển gia đình, tuỳ theo thời gian, theo sự việc

+ Mối quan hệ trong gia đình.

– Liên minh =========   Liên kết này có tính chất cực kỳ khắng khít.

+ Hợp nhất   =========   Liên kết gắn chặt

+ Đồng minh  =========  Liên kết này có tính tiêu cực, phe phái và chống đối người khác.

+ Trong gia đình có vai trò đối xứng và bổ sung.

  • Vai trò đối xứng : Cả hai đều có quyền lực bằng nhau.
  • Vai trò bổ xung : Một người có nhiều quyền lực hơn

 Quy trình.

Việc xây dựng sơ đồ phả hệ cho hệ thống gia đình là một việc rất quan trọng trong cách tiếp cận trị liệu hệ thống. Đòi hỏi nhà trị liệu phải khai thác thông tin một cách chính xác, có chất liệu phong phú và kỹ thuật khai thác mở rộng tốt. Thường sơ đồ phả hệ được xây dựng lại theo từng buổi trị liệu ( ngoài ra còn có sơ đồ phả hệ tưởng tượng).

 Thâm nhập và khai thác thông tin.

Mục tiêu: Xây dựng mối quan hệ với thân chủ và các thành viên trong hệ thống, qua đó thâm nhập vào hệ thống.

Kỹ thuật : Gợi mở, lắng nghe, đồng cảm,…

Gặp gỡ tất cả thành viên của hệ thống, khai thác các thông tin, hoàn toàn không đưa ra lời nhận xét nào cả.

 Xây dựng sơ đồ phả hệ.

Mục tiêu: Xây dựng sơ đồ cấu trúc của hệ thống, xác định các mục tiêu cần thay đồi hoặc các mục tiêu cần tác động.

Kỹ thuật : Cùng với thân chủ hoặc các thành viên xây dựng các chi tiết của sơ đồ phả hệ. Sử dụng các ký hiệu.

Giải mã sơ đồ phả hệ.

Mục tiêu : Nhà trị liệu phải giải mã các chi tiết có trong sơ đồ, qua đó xác định lại các mục tiêu.

Kỹ thuật: Đòi hỏi nhà trị liệu có hiểu biết về các ký hiệu của sơ đồ phả hệ. Bên cạnh đó, cấu trúc lại các thông tin khai thác từ thân chủ.

Tái cấu trúc hệ thống.

Ở bước này, nhà trị liệu cùng thân chủ thảo luận những vấn đề đã xây dựng từ sơ đồ phả hệ, qua đó thân chủ hiểu sâu sắc hơn về hệ thống cấu trúc của bản thân.

Cùng thảo luận với thân chủ, các thành viên về các vấn đề có thể thay đổi trong phả hệ, qua đó giúp thân chủ bộc lộ những suy nghĩ của cá nhân và tự hình dung con đường thay đổi bản thân cho phù hợp với cấu trúc hệ thống.

4.3.Kỹ thuật Video Mi Ni

 Mục tiêu.

Tiếp cận trị liệu gia đình theo hướng hệ thống xác định rõ, thân chủ cần điều trị chỉ là triệu chứng của cả hệ thống gia đình bệnh lý. Chính vì vậy, vấn đề ở trong trị liêu là phải giúp đỡ và cải thiện tất cả các thành viên trong hệ thống nhận thức rõ vai trò của mình và các lỗi hệ thống nhằm tái cấu trúc lại.

Kỹ thuật Video nhằm giúp các thành viên trong gia đình tiếp cận các vấn đề của chính mình một cách tường minh, khách quan và rõ ràng hơn.

 Quy trình kỹ thuật.

 Thiết lập khung trị liệu.

Trị liệu theo kỹ thuật này cần có các phương tiện: Một máy quay camera tự động, phòng có gương một chiều với đầy đủ phương tiện trị liệu như máy chiếu video,…

Phòng trị liệu yên tĩnh, không gian vừa rộng, ấm cúng phù hợp cho tiến trình trị liệu gia đình.

Kỹ thuật trị liệu này cũng có thể tiến hành tại gia đình thân chủ.

Quy trình trị liệu.

Bước 1: Xác định mục tiêu cần thay đổi.

Mục tiêu:

Ở bước này, nhà trị liệu sau khi lắng nghe các vấn đề của hệ thống, cần xác định mục tiêu quan trọng cần thay đổi, đặc biệt các vấn đề nhận thức và hành vi của  một thành viên trong hệ thống làm ảnh hưởng đến thân chủ hoặc các thành viên khác của hệ thống. Qua đó, xác định được hành vi hoặc vấn đề nhận thức cần thay đổi.

Kỹ thuật :

Mời các thành viên trong hệ thống cùng thảo luận về vấn đề mà thân chủ đang gặp phải. Qua đó nhận biết vấn đề cần thay đổi.

Ví dụ : Vấn đề sợ đi học của trẻ là do trẻ chưa chuẩn bị kỹ tâm lý trước khi đi học hoặc trẻ quá bám mẹ nên chuyện đi học là khó khăn.

Trẻ không chịu ăn là do cách chuẩn bị bữa ăn cho trẻ của gia đình, món ăn chưa ngon, chưa phù hợp.

Bước 2: Chuẩn bị nội dung Video.

Ở bước này có hai phương pháp để chuẩn bị nội dung đoạn Video.

+ Phương pháp 1: Đề nghị những người thân trong gia đình thân chủ quay một đoạn Video mini về cảnh sinh hoạt tại gia đình hoặc một hoàn cảnh nào đó giữa thân chủ và người thân trong gia đình, những cảnh quay này phải phù hợp với nội dung vấn đề cần thay đổi ở thân chủ hoặc các thành viên trong gia đình.

Ví dụ : Yêu cầu quay cảnh cha mẹ chuẩn bị đưa trẻ đi học với đứa trẻ sợ đến trường.

Quay cảnh mẹ chuẩn bị và cho trẻ ăn khi đứa trẻ lười ăn,….

+ Phương pháp 2: Đề nghị thân chủ cùng người thân trong gia đình tham gia vào các hoạt động tại phòng điều trị và máy quay tự động không để cho những người tham gia biết.

Đoạn Video phải đạt yêu cầu là rất ngắn ( thường khoảng không quá 2 phút) nhưng chứa đựng được nội dung thảo luận.

Bước 3: Thảo luận vấn đề.

Mục tiêu: Mục tiêu cơ bản ở bước này là giúp các thành viên tham gia các hoạt động thay đổi có cách nhìn rõ ràng hơn về bản thân. Từ đó có nhận thức đúng đắn về các mối quan hệ và sự lỏng lẻo của cấu trúc. Qua đó có hướng thay đổi bản thân, thay đổi sự việc cho phù hợp với điều kiện của cấu trúc.

Kỹ thuật:

+ Chiếu đoạn Video mini mới quay được cho thân chủ hoặc các thành viên cùng xem với nhà trị liệu.

+ Cùng thảo luận với thân chủ hoặc các thành viên về nội dung đoạn Video, cho thân chủ hoặc các thành viên xem nhiều lần. Nhà trị liệu không nói gì đến các yếu tố gây rối loạn cấu trúc mà chỉ thảo luận xung quanh các ý tưởng của đoạn Video.

Bước 4. Kết thúc phiên trị liệu.

Ở bước này sau khi nhà trị liệu và thân chủ đã thảo luận với nhau về các vấn đề, ý tưởng, nội dung của đoạn Video. Nhà trị liệu giúp thân chủ nhận thấy vấn đề cần thay đổi để phù hợp với cấu trúc của gia đình. Xây dựng lại hành vi cho phù hợp với hoàn cảnh và điều chỉnh nhận thức của các thành viên.

4.4.Kỹ thuật phép ẩn dụ

Trong trị liệu gia đình nói riêng và trị liệu tâm lý nói chung, làm việc trên hình ảnh hoặc cấu chuyện ẩn dụ là cách làm việc với thân chủ một cách gián tiếp, không nêu đích danh vấn đề thực tại mà thân chủ đang trải qua, chỉ dùng những hình ảnh, đồ vật, hoặc câu truyện như một phương tiện ẩn dụ chuyển tải thông tin sự kiện của thân chủ. Kỹ thuật này nhằm tránh cho thân chủ những nỗi sợ hãi, khó khăn tâm lý, sự kích động thực sự mà thân chủ đang phải trải qua một cách khó khăn.

Việc thực hiện gồm 3 bước:

Bước 1: Xây dựng hình ảnh ẩn dụ.

Sau khi lắng nghe vấn đề của thân chủ, nhà trị liệu hoặc là tìm một hình ảnh, hoặc một câu chuyện ẩn dụ. Hoặc là cùng với thân chủ thảo luận vấn đề của họ để cùng đưa ra ý tưởng hình ảnh ẩn dụ. Hình ảnh ẩn dụ này phải chứa đựng nội dung có ý nghĩa về một người hay sự việc có liên quan đến thân chủ và các vấn đề của thân chủ hoặc vấn đề của hệ thống.

Tuy nhiên, thường là ở bước này nhà trị liệu để thân chủ hoặc gia đình tự xây dựng câu chuyện và hình ảnh ẩn dụ cho mình.

Bước 2: Thảo luận.

Nhà trị liệu thảo luận về hình ảnh hay câu chuyện ẩn dụ với thân chủ. Các câu thảo luận, hoặc câu hỏi là những câu hỏi và vấn đề mở, hoàn toàn không được thảo luận các vấn đề thật của thân chủ và gia đình họ đang trải qua, chỉ thảo luận về những hình ảnh, câu chuyện ẩn dụ.

Bước 3 : Diễn giải.

Cùng thân chủ diễn giải các vấn đề đã đặt ra ở bước 2.

Các vấn đề diễn giải hoàn toàn không định hướng và không được đánh giá hay phê phán vấn đề của thân chủ hoặc gia đình. Nhà trị liệu tôn trọng ý kiến của thân chủ, để các hình ảnh ẩn dụ bay bổng với các ý kiến diễn giải của cả thân chủ, gia đình và nhà trị liệu.

Tuyệt đối theo nguyên tắc : Chỉ diễn giải các vấn đề của hình ảnh hay câu chuyện ẩn dụ, không diễn giải các vấn đề của thân chủ và gia đình.

 Nguyên tắc :

– Cần hỏi ý kiến tất cả các thành viên trong gia đình về hình ảnh hay câu chuyện ẩn dụ.

– Ở thế giới ẩn dụ, càng nhiều thì tác động càng tốt. Nhà trị liệu vừa cảm nhận, vừa phân tích , lý giải. Đối với gia đình chỉ yêu cầu cảm nhận chứ không lý giải .

– Phép ẩn dụ có thể liên quan đến nhiều chiều kích khác nhau trong trị liệu: một hình ảnh ẩn dụ có thể liên quan đến những sự kiện trong thực tế khách quan, các diễn biến trong nội tâm, hoặc cũng có thể sử dụng hình ảnh ẩn dụ để liên hệ đến các tương tác và các mối quan hệ giữa người với người.

4.5.Kỹ thuật tâm kịch

 Mục đích.

– Giúp thân chủ bộc lộ những cảm xúc và những trải nghiệm vô thức, từ đó có tác dụng như một kỹ thuật động lực tâm thần.

– Qua vở kịch, những ý tưởng và hành vi của kịch cảnh giúp thân chủ có nhận thức đúng đắn và thay đổi những hành vi không phù hợp.

 Nguyên lý.

Cơ sở tác động điều trị của liệu pháp này là giải toả các xung đột dồn nén , làm sảng khoái tinh thần, tạo tâm trạng thư thái vì nó tháo gỡ những vướng mắc về xúc cảm tình cảm , tư tưởng, nhận thức và cả cơ thể …. Nguồn gốc của giải toả , theo Morenon là tính tự phát được hiểu là khả năng thân chủ phản ứng phù hợp với những tình huống, hoàn cảnh xuất hiện đột ngột. Thường thường, những người bị các rối nhiễu tâm lý hay rối loạn tâm thần có những thiếu hụt nào đó về kỹ năng giao tiếp, ít có khả năng ứng phó kịp thời phù hợp với hoàn cảnh . Hơn nữa , họ còn bị rối loạn cân bằng giữa thế giới thực và thế giới tưởng tượng.

Chỉ định và chông chỉ định.

Chỉ định:

– Các rối loạn tâm căn : lo âu, trầm cảm, …

-Các rối loạn hành vi, cảm xúc ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

– Tâm thần phân liệt ổn định….

Chống chỉ định:

Các trường hợp loạn thần cấp, chậm phát triển tâm thần nặng.

Kỹ thuật.

Thiết lập khung trị liệu:

– Về không gian : Trị liệu tâm kịch phải được thiết kế bởi một phòng rộng vừa đủ cho khoảng 10 người trong phiên trị liệu. Phòng phải đủ thoáng , mát và không ồn ào, cách xa sự chú ý của những người xung quanh cũng nhưng không thể làm những người tham gia trị liệu phân tâm, luôn tạo sự tin tưởng trong phiên trị liệu.

– Trong một phiên trị liệu ít nhất có sự tham gia của từ 2 nhà trị liệu trở lên. Một người đóng vai trò như người dẫn chương trình còn người kia nhưng một người ghi chép khách quan, sau đó lý giải những tình huống đã xảy ra.

– Thời gian cho một buổi trị liệu thường kéo dài đến 1 giờ. Thời gian cho một tiến trình trị liệu không giới hạn, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, đánh giá của nhà trị liệu,…

– Nguyên tắc quan trọng nhất trong trị liệu tâm kịch là sự bảo mật thông tin. Nguyên tắc này phải được thiết lập ngay từ đầu, các thành viên trong phiên trị liệu thống nhất và tôn trọng thông tin cá nhân của từng thành viên , không được lấy thông tin đó phát tán ra ngoài, hay dùng nó như một cách để vì mục đích cá nhân. Tốt nhất phải có hợp đồng rõ ràng trước khi bắt tay vào trị liệu.

– Trước phiên trị liệu, nhà trị liệu phải tiên lượng được những tình huống có thể xảy ra trong quá trình điều trị. Muốn vậy nhà trị liệu cần phải tìm hiểu thân chủ của mình thật kỹ trước khi bắt đầu trị liệu. Có kế hoạch từng giai đoạn trị liệu rõ ràng và thường chủ động trong phiên trị liệu.

 Quy trình một buổi trị liệu tâm kịch.

( Một phiên trị liệu tâm kịch thường trải qua 4 gia đoạn )

Bước 1 : Xây dựng chủ đề của buổi trị liệu.

Trong bước này, mọi người ngồi trên ghế thành vòng tròn, tất cả mọi người tham dự được yêu cầu tìm một chủ đề để tạo ra một kịch cảnh. Mỗi người kể điều mà họ nghĩ  hay tưởng tượng ra trong tuần lễ trước, chuyện gì xảy ra trong cuộc sống của họ hay họ mơ tưởng chuyện gì. Một cuộc trao đổi quanh câu chuyện kể sẽ dần dần hình thành và từ đó thoát ra chủ đề yêu thích hay chủ đề cả nhóm cùng quan tâm. Nếu ai đó nói điều gì có vẻ kích thích sự xúc động hay trí tưởng tượng của những người khác , điều anh ta nói sẽ được dùng làm khởi điểm cho kịch cảnh.

Trong giai đoạn này, nhà trị liệu là người khơi gợi và hướng dẫn thân chủ kể về câu chuyện của họ. Sau đó cùng thống nhất với nhóm về chủ đề sẽ trở thành kịch cảnh trong quá trình trị liệu.

Giai đoạn này thường kéo dài  5 – 10 phút của một phiên trị liệu.

Bước 2: Chuẩn bị cho vở kịch.

Ở bước này, nhà trị liệu và nhóm xây dựng vở kịch từ chủ đề đã chọn, một kịch cảnh tưởng tượng được hình thành với những nhân vật như ông bố, bà mẹ, gia đình hay các đồng nghiệp,… Bên cạnh đó, những người tham gia cũng có thể thủ vai các con vật hay đồ đạc quen thuộc trong cuộc sống và là chứng nhân của cuộc sống đã được gợi ra. Một khi kịch cảnh đã được xây dựng , các vai diễn lộ ra và người thủ vai được chọn, thường là các thành viên tự chọn vai mình thích hoặc tâm đắc. Sau đó, việc chọn vai được cả nhóm bàn bạc và cuối cùng , khi các bước chuẩn bị đã xong, vở diễn có thể bắt đầu.

Giai đoạn này thường kéo dài 5 – 10 phút.

Bước 3: Diễn tiến của vở diễn.

Khi đã chuẩn bị xong về kịch cảnh và công việc phân vai đã xong, vở diễn sẽ bắt đầu với những tình tiết đã được xác định từ bước đầu. Tuy nhiên, vở diễn thường có những tình huống bất ngờ đối với diễn viên. Những ý tưởng ban đầu chỉ là những nét sơ thảo của vở diễn. Mỗi diễn viên có thể có khả năng thêm vào vai diễn của mình những tình tiết cá nhân của cuộc đời mình, cuộc đời này cũng được đưa vào vở diễn và chủ đề của tâm kịch, cho dù là người khác khởi xướng, cũng được dùng để đưa vào vở diễn một cái gì đó của cuộc đời cá nhân. Qua đó bộc lộ những cảm xúc và những ám ảnh bị dồn nén. Nó sẽ kích thích những biểu diễn và làm nảy sinh những hồi tưởng, những sống thực, những sống thực này có thể được nói ở buổi trị liệu sau, trước mỗi buổi trị liệu.

Giai đoạn này, nhà trị liệu như người hướng dẫn, không được can thiệp quá sâu vào cảm xúc thân chủ, tạo cho thân chủ cảm giác có thể bộc lộ những yếu tố  bản thân. Nhà trị liệu thứ 2 là người ghi chép trung thành.

Giai đoạn này thường kéo dài 20 – 30 phút.

Bước 4: Kết thúc buổi trị liệu.

Sau một thời gian diễn kịch, nhà trị liệu vẫn ngồi và quyết định sẽ ngưng diễn hay không, xem như đã có đủ những sự việc được tỏ bày để hình thành một ý tưởng, một giả thiết. Mọi người sẽ ngồi lại lên ghế của mình và chia sẻ những cảm tưởng, những suy nghĩ  đã được kịch cảnh gợi ra, những kỷ niệm có thể đã đến với tâm trí mình…, đây chính là dịp để nhà trị liệu tham gia trò chơi và nhà trị liệu vai trò quan sát đưa ra những lý giải , nhưng điều này không nhất thiết phải có vì thường cuối cùng thì thân chủ cũng tỏ ra có khả năng về việc này.

Kết thúc buổi trị liệu, nhà trị liệu cần nhắc lại quy ước từ đầu buổi trị liệu. Yêu cầu nhóm làm một số kỹ thuật thư giãn và tuyên bố kết thúc buổi trị liệu.

PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ