Thí điểm bổ sung chức năng, nhiệm vụ điều trị nghiện ma túy tự nguyện

Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội số IV Hà Nội và Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội số VI Hà Nội trực thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội sẽ được thí điểm bổ sung chức năng, nhiệm vụ điều trị nghiện ma túy tự nguyện.

Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người nghiện ma túy
Theo UBND thành phố Hà Nội, hai trung tâm này được bổ sung thêm chức năng chữa trị, tổ chức giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp cho các đối tượng nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS và điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Đối tượng phục vụ của Trung tâm là các đối tượng nghiện ma túy có nhu cầu được tự nguyện cai nghiện.

Trung tâm có nhiệm vụ tiếp nhận, phân loại, tổ chức chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, chăm sóc, quản lý, tư vấn cho các đối tượng nghiện ma túy, bị nhiễm HIV/AIDS theo quy trình quy định; Tổ chức, cung cấp dịch vụ tư vấn, khám và điều trị người nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone; Tổ chức cho các đối tượng lao động trị liệu, lao động sản xuất hướng nghiệp.

Bên cạnh đó, trung tâm liên kết với các cơ sở dạy nghề ở địa phương tổ chức dạy nghề phù hợp với điều kiện của Trung tâm và trình độ của từng đối tượng; Tổ chức giáo dục pháp luật, đạo đức rèn luyện thể chất, phục hồi hành vi nhân cách, thể dục thể thao, dạy văn hóa cho các đối tượng; Hướng dẫn, tư vấn cho đối tượng, gia đình về cai nghiện, chữa trị, quản lý, giáo dục người nghiện ma túy…
Thúy Vân

BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI  GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY

1.Tổn thương hệ thống não bộ  và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

2.Rối loạn và xuống cấp nhận thức – hành vi – nhân cách.

3.Chấn thương tâm lý: đây không phải là một hành động nhất thời mà là một quá trình diễn biến đầy mâu thuẫn và phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện của người nghiện ma túy đối với bản thângia đình và xã hội.

4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện, trừ một số ít trường hợp nhẹ.

Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn nhận thức hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

 

ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRÊN Y VĂN THẾ GIỚI ĐÃ CHỈ RÕ:

1/ Không có mô hình cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện mà chỉ có những nguyên tắc căn bản về điều trị – giáo dục – quản lý đối với người nghiện. Mô hình điều trị tốt cho người này, chưa hẳn đã phù hợp với người khác, mà thậm chí kết quả còn ngược lại.

2/ Trừ một số ít trường hợp nghiện nhẹđiều trị nghiện ma túy phải sử dụng một biện pháp tổng hợp, linh hoạt và kịp thờinhằm mục đích gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải tỏa các chấn thương tâm lý và để người cai nghiện không còn thèm nhớ ma túy phải sử dụng các liệu pháp sau:

·    Tư vấn – Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp giáo dục – Liệu pháp xã hội – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Hoạt động trị liệu – Sinh hoạt cá nhân, nhóm, gia đình,…

·    Đối với nhóm người nghiện Á phiện – Morphine -Héroine (OMH) cần phải uống thuốcNALTREXONE để đối tượng không còn thèm nhớ ma túy. Tuy nhiên, nếu chỉ uống thuốc Naltexone đơn thuần mà không sử dụng các liệu pháp trênngười cai nghiện sẽ không được phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải quyết các chấn thương tâm lý nên dễ bỏ chương trình điều trị và dễ tái sử dụng ma túyKết quả điều trị do đó sẽ rất hạn chế.

3/ Không có một liệu pháp đơn thuần nào (uống thuốc, châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật thùy não,…) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy.

4/ Chương trình điều trị phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lý của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy giải quyết– nhưng phải phối hợp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực mình với lĩnh vực chuyên môn của người khác.

5/ Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

TÁC HẠI CỦA MA TÚY TỔNG HỢP DẠNG KÍCH THÍCH (MA TÚY ĐÁ – THUỐC LẮC – AMPHETAMIN …)

(Amphetamine – Type Stimulants) (ATS)

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

  I. DỊCH TỄ HỌC:

Sử dụng Amphetamin có thể xảy ra ở mọi tầng lớp xã hội nhưng nhiều nhất ở nhóm “nghề nghiệp áo trắng”: sinh viên học thi, lái xe tải đường dài, vận động viên thể thao trong thi đấu, các doanh nghiệp trước các công việc quan trọng…

Lúc đầu, sử dụng Apx để tăng sự tỉnh táo, tăng năng xuất công việc, chống mệt mỏi… rồi nhanh chóng trở thành lạm dụng và nghiện ATS.

·        Sử dụng ATS trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.

+       Quân đội Mỹ: Phi công được sử dụng để giúp họ tỉnh táo.

+      Quân đội Đức: Sử dụng thuốc ATS sản xuất trong nước với tên biệt dược là Pervitin. Hitle được bác sĩ riêng, Theodore Morell tiêm hàng ngày.

·       Ở Mỹ

+      Binh lính Mỹ được khuyến khích dùng Amphetamin cả trong chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên.

+      Hiện nay ATS vẫn được phép sử dụng trong quân đội Mỹ.

+      57% phi công Mỹ trở về sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 họ nói thường xuyên sử dụng ATS.

Năm 1991: 7% dân số dùng ATS ít nhất 1 lần/ năm và 1% nghiện. Nhóm tuổi từ 18 – 25 có tỷ lệ cao nhất (7% có sử dụng ít nhất 1 lần), nhóm 12 – 17 có tỷ lệ nghiện đáng báo động (3% đã sử dụng ít nhất 1 lần).

Năm 1992: 13,9% sinh viên đại học và cao đẳng sử dụng ít nhất 1 lần và năm 1994: tăng đến 15,7%.

·    Ở Nhật:

Năm 1948 có 50% người tuổi từ 18 – 25 sử dụng ATS ít nhất 1 lần (sau đệ nhị thế chiến). Hiện nay ATS vẫn là chất ma túy chủ yếu…

·    Các nơi khác:

Số nguời đã sử dụng ATS ở Thụy Sĩ là 8%, Đức 2,8%, Tiệp Khắc 1,6%, Brazil là 5%. Tại Úc 25% nam và 12% nữ tuổi từ 20- 24 đã thử dùng ATS.

·   Ở Việt Nam:

Xuất hiện từ cuối những năm 90 của Thế kỷ trước, hiện ATS đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố.

ATS được dùng phổ biến ở Việt NamMethamphetamineEctasy với các tên lóng như: đá, thuốc lắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba..

Do giá thành cao, ATS được dùng phổ biến trong nhóm người nghiện ma túy là những thanh niên con nhà khá giả ở những thành phố lớn.

*   Thống kê tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có 9 bệnh nhân sử dụng nhóm ATS nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần (93 người). Riêng 3 tháng đầu năm 2012 nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý đã là 15 người.

TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY
THANH ĐA
 (TỪ 2005 ĐẾN 22-/06/2014) thống kê cho thấy số học viên sử dụng nhóm ATS như sau:​

NĂM SỐ HỌC VIÊN SỬ DỤNG NHÓM AMP ty-le-su-dung-nhom-amp.PNG - 6.11 kb SỐ HỌC VIÊN PHẢI  ĐIỀU TRỊ HÓA DƯỢC (THEO ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH VIỆN TÂM THẦN) ty-le-deu-tri-hoa-duoc.PNG - 6.29 kb SỐ PHẢI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TẦM THẦN
2005 04 0,56% 00 00% 0
2006 05 0,90% 00 00% 0
2007 22 2,10% 00 00% 0
2008 43 2,93% 02 4,65% 0
2009 69 4,75% 07 10,14% 0
2010 140 9,70% 29 20,07% 3
2011 255 16,95% 55 21,57% 3
2012 361 22,46% 67 18,56% 5
2013 358 24,49% 121 33,80% 6
NĂM 2014 436 29,9%% 141 32,34% 5
NĂM 2015

 (01/01/2015 ĐẾN 30/09/2015)

395 37,87% 114 28,86% 5

Cho đến nay số học viên nghiện ma túy nhóm ATS đã được điều trị tại Trung tâm là hơn 1.952 trường hợp. Riêng năm 2013 và 2014, tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy nhóm ATS phải điều trị bằng hóa dược chiếm 33,80 %, gấp gần 2 lần số học viên được điều trị bằng hóa dược năm 2012. Kết quả trên cho thấy:

– VẤN ĐỀ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS CẦN BÁO ĐỘNG: TÁC HẠI CỦA NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS LÀ KHÔNG LƯỜNG ĐƯỢC, nhất là khi người nghiện ma túy thuộc nhóm tài xế lái xe tải nặng đường dài, số người nghiện có tiền án tiền sự, số người từ các trung tâm cai nghiện trở về tái nghiện, …

–  Số người sử dụng ma túy ATS tăng nhanh đều mỗi năm. Hiện nay tại Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa số học viên sử dụng ATS chiếm hơn 1/3 so với tổng số học viên cai nghiện ma túy.

–  Số học viên có vấn đề tâm thần buộc điều trị hóa dược gần 1/3 trên tổng số học viên sử dụng ma túy nhóm ATS. Số học viên nghiện ATS còn lại hầu hết đều có vấn đề tâm thần.

II.   CƠ CHẾ TÁC DỤNG:

Tất cả các loại ATS đều hấp thu nhanh qua đường uống và tác động lên hệ thần kinh trung ương xảy ra nhanh trong vòng 1 giờ sau khi uống. Các Amphetamin cổ điển cũng được sử dụng đường tiêm tĩnh mạch do nó có hiệu quả ngay lập tức. Ngoài ra Amphetamin mới cũng như loại không được kê đơn cũng được sử dụng hít qua đường mũi. Sự dung nạp cũng được xảy ra với 2 loại Amphetamin nói trên, mặc dù người sử dụng Amphetamin thường vượt qua sự dung nạp bằng cách sử dụng nhiều loại ma túy hơn. Amphetamin gây nghiện yếu hơn cocaine.

Các loại Amphetamin cổ điển (dextroamphetamine, methamphetamine (hàng đá) và methylphenidate) có hiệu quả ban đầu của nó bằng cách gây tăng phóng thích cathecoliamine, đặc biệt dopamine ở tận cùng tiền synapse. Các hiệu quả đặc biệt mạnh với các nơ ron dopaminergic ở vùng nhân tegment, nhân bụng của vỏ não và vùng hồi viền. Đường này đã được xác định là đường củng cố tích cực và sự kích hoạt nó hiển nhiên là cơ chế gây nghiện mạnh đối với các Amphetamine.

– Các loại amphetamine mới ( MDMA, MDEA. MNDA, và DOM) gây ra sự phóng thích Cathecholamine (dopamine và norepinephrine) và serotoninSerotonin là chất vận chuyển thần kinh được chứng tỏ như là đường hóa học thần kinh chủ yếu liên quan đến tác động gây ảo giác. Tuy nhiên hiệu quả lâm sàng của các Amphetamine mới cũng gây dung nạp chéo với các Amphetamine cổ điển và gây ảo giác. Dược lý của MDMA (thuốc lắc) được biết rất rõ trong nhóm này, nó có ái lực với các nơ ron serotoninergic qua việc chịu trách nhiệm vận chuyển serotonin, qua việc thu hồi serotonin. Khi vào tế bào thần kinh, MDMA gây ra một sự phóng thích nhanh serotonin và ức chế sản xuất ra các enzyme phân hủy serotonin.

–  MDMA còn có tên gọi khác là Ectasy, thuốc lắc, XTC, E, Eva & Adam …

III.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

ATS gây ra các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Khô miệng, khô môi

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Mất trí nhớ

+ Giảm khả năng xét đoán, tập trung

+ Giảm khả năng lao động xã hội.

+ Buồn nôn, nôn

+ Mất ngủ

+ Sút cân

+ Giảm ăn, biếng ăn

+ Hỏng răng, nuốt khó

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Trầm cảm, lo lắng

+ Căng thẳng, giận dữ, bồn chồn.

+ Hoang tưởng, ảo thanh, phản ứng hoảng sợ

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

+ Đột quỵ, nhũn não, đau đầu

+  Có ý tưởng tự sát.

Tóm lại, triệu chứng lâm sàng thể hiện qua hai mặt cơ thể và tâm thần như sau:

1.  VỀ CƠ THỂ:

+      Tác động chủ yếu trên hệ thần kinh – hệ tim mạch – hệ tiêu hóa.

+       Các biểu hiện lâm sàng đáng chú ý bao gồm: nhồi máu cơ timtăng huyết áp kịch phátbệnh lý mạch máu não và viêm đại tràng thiếu máu. Những người lạm dụng ATS thường có hành vi tình dục không an toàn.

+       Các tác dụng không mong muốn và ít nguy hiểm là: nóng bừng mặt, xanh xao, tím tái thiếu ô xy, sốt, đau đầu, nhịp tim nhanh, buồn nôn, nôn, mất men răng, thở hụt hơi, run, loạng choạng.

+       Ở phụ nữ có thai thường thai nhi chậm lớn, nhẹ cânvòng đầu nhỏsinh non.

2.  VỀ TÂM THẦN:

Người sử dụng ATS có các biểu hiện sau: bồn chồn, loạn khí sắc, mất ngủ, cáu kỉnh, hoảng sợ, lú lẫn, trở nên thù địch, và các triệu chứng của rối loạn lo âu. Ý tưởng liên hệhoang tưởng paranoid và các ảo giác cũng có thể xảy ra.

·    Đối với người sử dụng các loại Amphetamin mới, còn có các triệu chứng sau:

–       Triệu chứng ngắn hạnNhịp tim nhanh, run, khô miệng, dị cảm, co cơ, đổ mồ hôi, lơ mơ, mệt mỏi, mất ngủ, choáng váng, ảo thị, nhìn không rõ, hay giật mình, khó tập trung, có cơn nóng lạnh, đánh trống ngực, nhạy cảm với lạnh, dễ cáu kỉnh, mất men răng, nhìn thấy đồ vật lấp lánh, cảm giác thân thiện, gần gũi, quan hệ với người khác.

–       Triệu chứng kéo dài: ngủ lơ mơ, uể oải, đau cơ, mệt mỏi, trầm cảm, căng cơ hàm (nghiến răng), đau đầu, khô miệng, lo âu, buồn rầu, sợ hãi, dễ cáu kỉnh, khó tập trung chú ý, cảm giác thân thiện với người khác.

Ngoài ra hầu hết các chất ATS làm tăng nhu cầu tình dục nên người sử dụng ATS quan hệ nam nữ bừa bãi, hay chích chung kim do đó rất dễ lây nhiễm các bệnh HIV, viêm gan siêu vi, đồng thời do bị kích động người sử dụng ATS hay phóng xe, lạng lách gây tai nạn giao thông cho chính mình và người khác.

IV. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC AMPHETAMIN.

A. Thường xuyên dùng APT hoặc giống APT.

B. Có các thay đổi về tâm lý và hành vi không thích hợprõ rệt trên lâm sàng:

Khoái cảm, cùn mòn cảm xúc.

Mất ngủ, lo âu, căng thẳng, giận dữ

Các hành vi có tính định hình

Giảm khả năng xét đoán, khả năng lao động xã hội.

Các triệu chứng này xuất hiện trong khi sử dụng hay một thời gian ngắn sau khi sử dụng APT.

C. Có 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Buồn nôn, nôn

+ Sút cân

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

D. Các triệu chứng này không do một bệnh cơ thể nào khác gây ra và không ghép được vào một rối loạn tâm thần nào khác.

V. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI LOẠN THẦN DO AMPHETAMIN:

(Amphetamine Inducd Psychosis)

+ Biểu hiện cốt lõi là h/c paranoid với các đặc trưng:

– Nhiều ảo thị (sinh động, nhiều màu sắc, cấp diễn và ảo thanh.

– Các ảo giác chiếm ưu thế trong bệnh cảnh.

– Các hoang tưởng thường gặp là: hoang tưởng liên hệ, bị truy hại, đôi khi có cả hoang tưởng bị kiểm tra, tư duy bị cài đặt, bị bộc lộ.

+ Tăng hoạt độnghoặc rối loạn hành vi theo ảo giác chi phối

+ Tăng tình dục(hypersexuality)

+ Bối rối lẫn lộn, đôi khi tư duy rời rạc không liên quan.

· Triệu chứng thường xuất hiện cấp diễn ở những người nghiện APT lâu ngày hoặc kèm nhiễm độc rượu, stress.

· Phân biệt với tâm thần phân liệt: triệu chứng giảm dần vài ngày khi được điều trị hoặc xét nghiệm nước tiểu đã tìm thấy chất ma túy.

VI. HỘI CHỨNG CAI AMPHETAMIN:

· Biểu hiện hội chứng cai có thể xuất hiện từ vài giờ đến vài ngày sau khi ngưng sử dụng APT.

· Các triệu chứng đạt cường độ tối đa trong vòng 2 – 4 ngày sauhết sau khoảng một tuần.

· Triệu chứng nặng nề nhất là trầm cảm. Ở người nghiện dài ngày, sử dụng ma túy liều cao thì trầm cảm thường rất nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát.

VII. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG CAI (DSM – IV):

A- Hội chứng xảy ra do ngừng hay giảm sử dụng APT (hoặc giống APT) ở người nghiện (đã dùng liều cao và kéo dài…) APT.

B- Có rối loạn khí sắc và có 2 hoặc nhiều hơn các rối loạn sau đây (xuất hiện sau khi ngừng sử dụng APT một vài giờ hay một vài ngày).

Mệt mỏi

– Có những giấc mơ đáng sợ.

Mất ngủhay ngủ nhiều.

Tăngcảm giác ngon miệng.

Kích thíchhoặc ức chế tâm thần vận động.

C – Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã hội, lao động.

D – Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn thần khác gây ra.

Nguồn : cainghienmatuythanhda

Giai đoạn nội trú tập trung

MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

A- RỐI LOẠN TÂM – SINH LÝ TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

Ma túy là những chất tác động tâm thần và gây những tổn thương trong nãongười nghiện. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khingưng sử dụng ma túy.

Người nghiện ma túy bị suy giảm khả năng xét đoán, khả năng xử lý thông tin, mất khả năng tự chủ, khả năng hiểu biết để hướng đến một cuộc sống lành mạnh. Người nghiện hình thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Liệu pháp điều trị – phục hồi là một vấn đề hết sức khó khăn vì người bệnh bị những rối nhiễu tâm sinh lý thực tổn – lú lẫn tâm trí – phản ứng loạn tâm thần – rối loạn sinh hoạt – trạng thái hưng trầm nhược – rối loạn hành vi – rối loạn tập trung – biểu hiện lo hãi – thiếu tự tin, kết hợp với các rối loạn nhân cách – rối loạn tâm thần và đặc biệt là hội chứng hồi tưởng dẫn đến thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó … Đa số người nghiện ma túy đều được xếp vào những người có vấn đề tâm thần.

Sự rối loạn trên nguyên nhân từ nhiều lý do khác nhau : Tâm – sinh lý người nghiện, hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đình và tác động của xã hội. Việc sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma tuý dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng của một quá trình dài đầy rối loạn trong một bối cảnh đa phương diệndo đó, việc điều trị phục hồi người nghiện ma tuý phải là một phương pháp điều trị toàn diện bao gồm nhiều  lãnh vực Y tế – Tâm lý – Xã hội… Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma tuý vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

Vì những lý do trên, nên trừ một số trường hợp bệnh nhẹ, hầu hết những người nghiện ma túy đều phải được điều trị tập trung một thời gian để được giáo dục, giúp đỡ, rèn luyện, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách; trang bị bản lĩnhkỹ năng sống trước khi trở về tiếp tục điều trị tại cộng đồng.

Để có được một môi trường điều trị tập trung dài hạnhiệu quả, qua thực tiễnlý luận người ta nhận thấy rằng MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ THEO PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP XÃ HỘI VÀ TỰ GIÚP ĐỠ (SSLTM) trong một MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆUvà CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU khá thành công – có hiệu quả nhất.

Nếu được điều trị và phục hồi đúng cách, người nghiện sau khi cai nghiện sẽ bước vào cuộc sống với những thói quen tốt, những nhận thức đúng đắn – biết tự trọng và tự tin hơn để với sự giúp đỡ của cộng đồng sẽ có thể từng bước, bước đi chính trên đôi chân của mình.

B. ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẬP TRUNG DÀI HẠN:

MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

I- ĐỊNH NGHĨA:

  1- MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU:  

Môi trường trị liệusử dụng một cách khoa học môi trường nhằm mục đích trị liệu, tạo nên những thay đổi trong nhân cách của bệnh nhân. Danh từ môi trường trị liệu lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà tâm thần học BETTLEHEIM và SYLVERTER vào cuối những năm 1930 đầu những năm 1940 để miêu tả một môi trường kế hoạch khoa họcnhằm mục đích thay đổi nhân cách của bệnh nhân.

Khi một bênh nhân bị căng thẳng, bức xúc, mất ngủ – người thầy thuốc khuyên bệnh nhân hãy nghỉ ngơi ở những nơi yên tĩnh. Bạn có thể lên cao nguyên hoặc vềvùng biển một thời gian. Nơi yên tĩnh, cao nguyên, biển chính là thuốc để điều trị các chứng căng thẳng, bức xúc, mất ngủ của bạn. Sử dụng môi trường để điều trị bệnh được gọi là môi trường trị liệu.

Những khái niệm về môi trường trị liệu: Những cuộc nghiên cứu đã thực hiện đầu tiên về môi trường trị liệu hầu hết sử dụng những lý thuyết về tâm thần hay vềtâm lý bệnh nhân để xác định loại môi trường nào là có tính cách trị liệu tốt nhất. Những nổ lực được thực hiện để tìm kiếm một môi trường tương tác giữa các cá nhân, được chi tiết hoá kỷ lưỡng, đặt nền tảng trên những nhu cầu tâm năng của một bệnh nhân đã được chẩn đoán kỹ càng.

+ Năm 1944 STANTON và SCHWARTZ cho rằng môi trường có thể là cách điều trị chủ yếu, cũng như có vai trò ảnh hưởng nâng đỡ hay bổ túc cho các hình thức điều trị khác.

+ Một tác giả khác là CUWDELL đã miêu tả tác động của các giá trị văn hoá, nhữngchuẩn mựcphong tục của môi trường có thể ảnh hưởng lên sự điều trị của bệnh nhân.

+ Năm 1958 các tác giả FREEMAN, CAMERON đã cho rằng có mối liên hệ giữa tâm lý cá nhân và những đặc điểm của môi trường .

+ Năm 1962 CUMMING cho rằng môi trường có thể mang lại những thay đổi đặc thù trong hành vi của bệnh nhân. Các môi trường trị liệu có thể khác nhau tùy theo cách tổ chức, nhưng căn bản đều có những điểm chung trong các phương pháp trị liệuđối với các bệnh nhân điều trị nội trú.

Môi trường trị liệu nhận định rằng:

a/ Bệnh nhân có những sức mạnhmột phần nhân cách không bị xung đột. Những sức mạnh này được phát huy tối ưu bằng cách thiết lập một môi trường nội trú khoa học.

b/ Bệnh nhâncó những khả năng to lớn trong việc tự điều chỉnh chính mình, trên những bệnh nhân khác và mức độ nào đó có ảnh hưởng trên cơ cấu tổ chức của bệnh viện.

c/  Tất cả các nhân viên của trung tâm có một khả năng rất lớn để tác động đến việc trị liệu cho người bệnh.

  2-  CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

Theo CRACK, khác với môi trường trị liệu, cộng đồng trị liệu là một loại môi trường đặc biệt trong đó toàn cơ cấu xã hội của đơn vị điều trị đều tham gia tiến trình giúp đỡ bệnh nhân.

Theo JONES, môi trường cộng đồng trị liệu được phân biệt với các chương trình trị liệu khác là do chương trình này huy động toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân – thân nhân bệnh nhân và toàn bộ tập thể bệnh nhân và nhân viên đều tập trung vào mục đích điều trị. Như vậy,bệnh nhân cũng có một vị trí trong  chương trình điều trị này. Trong chương trình cộng đồng trị liệu, nhân viên  phải khuyến khíchbệnh nhân tích cực tham gia trong kế hoạch săn sóc cho chính mình. Đây là mộtphương pháp rất khác với vai trò thụ động chữa trị trong bệnh viện cổ điển, quy ước trong đó chỉ có vai trò bác sĩbệnh nhân. JONES cho rằng điểm đặc biệt của chương trình này là được đặt trên sự giao lưu, giao tiếp tự do giữa bệnh nhân vớinhân viêngiữa các bệnh nhân với nhau. Mục đích của sự giao lưu tự do này là tìm ra được hành vi nào, ý kiến nào, nhận xét nào, những vai trò nào  thích hợp để thay đổinhận thức, thái độ,  lòng tin của bệnh nhân và những vấn đề nào không thích hợpcho điều trị (anti therapeutic).

Như vậy, cộng đồng trị liệu có tính chất dân chủ, tự do bàn bạc, thảo luận khácvới phương pháp thường dùng là đặt vai trò trị liệu của người bác sĩ lên trên bệnh nhân và cách điều trị phục hồi tuân thủ những quy định theo thứ lớp bắt buộc.

Trong mô hình cộng đồng trị liệu, môi trường thiết yếu là môi trường linh hoạt,những người tham gia không có vai trò chuyên biệt rõ ràng, những hoạt động của bệnh nhân được cá thể hóa rất cao. Một điều ngoại lệ đặc biệt là MỖI NGÀY PHẢI CÓ MỘT BUỔI HỌP CỘNG ĐỒNG: tất cả nhân viên và những bệnh nhân được khuyến khíchphải hội họp, trách nhiệm tập thể được nhấn mạnh, những người tham dự được rút tỉa kinh nghiệm, học tập, sửasainhững hành vi không tốt.

Vai trò chính của nhân viên là giúp đỡ bệnh nhân đạt được những thấu hiểu mới, những sáng kiến, hành vi mới. JONES tin rằng một đơn vị điều trị lý tưởng cần phải được tự do điều hành trong cách nào tốt nhất, với hướng tiếp cận riêng của mình.Tuy nhiên, JONES cũng đưa ra những yếu tố mang tính đặc trưng của cộng đồng trị liệu: đó là hội họp cộng đồng hàng ngày như là một phương thức để thảo luận đời sống hàng ngày của Trung Tâm nhằm đóng góp, giải quyết các thắc mắc, các yêu cầu của các bệnh nhân.

Một yếu tố nữa của cộng đồng trị liệu là quản lý bệnh nhân. Mục đích của sự quản lý bệnh nhân là để bàn bạc, thảo luận một cách chi tiết, cụ thể vềtrách nhiệm quyền lợi của từng bệnh nhân như: luân phiên dọn dẹplàm vệ sinh các phòng. Tất cả mọi quyết định cuối cùng phải được thống nhất lại trong các phiên họp cộng đồng. Jones cho rằng sinh hoạt nhóm nhằm xem xét, kiểm điểm lại hoạt động trong ngàyrất cần thiết nhằm uốn nắn, giáo dục bệnh nhân. Trong buổi họp, các thành viên Trung Tâm phải bàn bạc những đáp ứng riêng,  mong đợi riêng, thành kiến riêngcủa mọi người. Một đặc trưng quan trọng khác của môi trường cộng đồng trị liệu là bệnh nhân có những cơ hội học cách sống sinh hoạt trong môi trường tập thể đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày. Theo JONES – phản hồi lại, là một trong những khái niệm căn bản, quan trọng nhất của cộng đồng trị liệu nhằm đạt được sự tiến bộcủacộng đồng. Nhân viên của Trung tâm phải nhạy cảm trong vai trò của mình- phải biết phản hồi lại những thông tin trong cộng đồng lên cấp trên. Ngày nay những khái niệm sơ khởi của JONES về cộng đồng trị liệu đã được nhìn nhận tuy nhiên được thực hiện dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau nhưng những nét cơ bản vẫn không thay đổi.

        Nguyên tắc của cộng đồngtrị liệu là có sự liên quan lẫn nhau trong môi trường nội trú, tác động đến hành vicảm xúc của mọi người. Năng động nhómđộng lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệmphục hồi – khuyến khích sự phát triển. Sự điều hành toàn diện môi trường cộng đồng rất có hiệu quả.

       Sức mạnh của năng động nhóm (dynamic group) ảnh hưởng đến việc điều chỉnh hành vi và củng cố các quy tắc của cộng đồng. Ngày nay, trong môi trường điều trị cộng đồng, sức mạnh ấy không còn nằm ở cá nhân hay một nhóm nhỏ nữa mà nó là sức mạnh của một tập thể.

  3. MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ THEO PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP XÃ HỘI VÀ TỰ GIÚP ĐỠ (SELF – HELP SOCIAL LEARNING TREATMENT MODEL – SSLTM):

Từ những khái niệm của cộng đồng trị liệu mô hình SSLTM đã được phát triển:

     3.1 HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU ẨN DANH (AA) – NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ẨN DANH (NA):

Năm 1935 – Nhóm những người nghiện rượu ẩn danh ( AL) được thành lập. Quan điểmcủa nhóm là cá nhân tự nhìn nhận bản thân, thừa nhận những khiếm khuyết của mìnhvàsửa đổi.

• Hội AA (Alcoholics Annymous) HIỆP HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU ẨN DANH – ra đời năm 1935, tại Akron- Ohio- Mỹ, do ông Bill Wilson và bác sĩ Bob Smith – vốn là hai người nghiện rượu, đã tự cai. Hai ông đã đưa ra 12 nguyên tắc điều trị, đồng thời lập ra hội AA. Hội khởi đầu có 3 thành viên.

• Năm 1953, hội AA cho phép hội NA (Narcotics Anonymous) HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ẨN DANH được phép sử dụng các bước của chương trình này vào việc cai nghiện ma túy.

Nghiện rượunghiện ma túynét chungcùng mục đích hồi phục và từ bỏ nghiện, đồng thời hình thành mối quan hệ đồng cảmgiữa những người đang cùng cai nghiện.

• Hơn 70 năm qua, chương trình 12 bước đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới,dựa trên căn bảntính truyền thống, và được bổ sung bởi nhiều bài viết chọn lọc của những người cai nghiện. Trụ sở trung ương Hội đặt tại New York và Châu Âu.

Phương pháp chính của Hộichương trình 12 bướcmột bộ sách giáo khoa kèm theo (Basic Text).  Phương pháp nhấn mạnh đặc biệt vai trò của quy trình thảo luận – thu hoạch – giải đáp.

Giáo viên hướng dẫnnhóm trợ lý đều là người cai nghiện thành công, xuất thân từ Trường Cai Nghiện trở thành chuyên viên – một người thầy thực sự của chuyên ngành ma túy.

Việc học tập được tổ chức tại Trung Tâm Cai nghiện Ma Túy, chương trình bao gồm giai đoạn cắt cơn, giai đoạn học tậprèn luyện theo chương trình 12 bước, kế tiếp là giai đoạn “bán thử tháchgiai đoạn thử thách” tại cộng đồng. Thời gian tổng quát là 6 tháng, có thể kéo dài một năm hay hơn nữa, tùy theo từng trường hợp.

Sau khi tái hòa nhập cộng đồng, mỗi người đều là hội viên của NA và giữ sinh hoạt với Hội, thân thiết, lâu dài để đem lại sự bền vững cho mình.

Tại Trung Tâm, học viên cũng được hưởng các dịch vụ sinh hoạt như: thể dục thể thao – vui chơi giải trí – nâng cao văn hóa, kỹ năng sống – các loại lao động trị liệu, hướng nghiệp.

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP 12 BƯỚC:

         Chương trình 12 bước có nguồn gốc như đã trình bày trên, chương trình được xây dựng trên nền tảng Tâm lý nhiều mặt, bao gồm nhiều ngã rẽ của tâm lý người nghiện, như sự phản ứng, thối động, che dấu, biện hộ, chối bỏ, không thừa nhận, buông xuôi, mất tự tin, hưng phấn giả tạo… qua từng giai đoạn, do tính chất căn bệnh gây nên, cộng với quán tính của hành vi tiêu cực lâu dài trong quá khứ. Chương trình do chính những người nghiện đã phục hồi xây dựng nên và được tiếp tục bổ sung. Chương trình 12 bước bao gồm:

Bước 1: “Chúng ta chấp nhận rằng mình bất lực về sự nghiện ngập của chúng ta và cuộc sống của chúng ta trở nên không kiểm soát được”

Bước 2: “Chúng ta tin rằng có một quyền năng mạnh hơn bản thân mình có thể giúp chúng ta phục hồi lại sự bình thường”

Bước 3: “Chúng ta quyết định để ‎ý chí và cuộc sống của chúng ta cho sự chăm sóc của Thiên Chúa vì chúng ta hiểu Người”

Bước 4: “Chúng ta đã đánh giá đạo đức của chúng ta một cách chân thật và can đảm”

Bước 5: “Chúng ta đã thú nhận với Đấng tối cao, với chính chúng ta, và với người khác về thực chất những hành động sai lầm của chúng ta”

Bước 6: “Chúng ta hoàn toàn để cho Đấng tối cao xóa bỏ đi tất cả những khuyết điểm của tính cách”

Bước 7: “Chúng ta khiêm tốn yêu cầu Đấng tối cao xóa bỏ những điều thiếu sót của chúng ta”

Bước 8: “Chúng ta viết ra danh sách những người mà chúng ta đã làm hại và chúng ta sẵn sàng sửa chữa tất cả”

Bước 9: “Chúng ta trực tiếp đền bù cho họ bất cứ nơi nào chúng ta có thể, ngoại trừ trường hợp nếu chúng ta làm điều đó sẽ tổn thương họ hoặc những người khác”

Bước 10: “Chúng ta tiếp tục làm bảng kiểm tra cá nhân, để khi nào chúng ta sai, chúng ta thừa nhận và sửa chữa ngay những sai lầm ấy”

Bước 11: “Chúng ta đã tìm kiếm thông qua cầu nguyện và thiền định để nâng cao nhận thức của chúng ta, tiếp cận với Chúa vì khi chúng ta hiểu được Người. Cầu nguyện chỉ là biểu hiện sự sẵn lòng của Người cho chúng ta và sức mạnh để làm điều đó”

Bước 12: “Sau khi đạt được sự nhận thức về tâm linh, kết quả của các bước mà ta đã cố gắng thực hiện. Chúng ta cố gắng mang thông điệp này đến cho những người nghiện ma túy khác và để thực hành các nguyên tắc này trong mọi công việc của chúng ta”

     3.2 MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG OXFORD: do Frank Buchman thành lập và là người có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng các giá trị nhân văn. Mục đích chủ yếu của nhóm Oxford là cai nghiện Rượu – Hoạt động của nhóm bao gồm những nội dung như cùng chia sẻ thông tin, hướng dẫn, cam kết sự thay đổiphục hồi. Chúng ta thấy được nhiều điểm tương đồng giữa nhóm Oxford với Cộng đồng trị liệu. Nhóm Oxford có những nổ lực trong việc truyền đạt các giá trị nhân văn tới các thành viên của nhóm. Trong số các giá trị này có 4 yếu tố cơ bản – đó là:

a/ Tính trung thực tuyệt đối

b/ Tính trong sạch tuyệt đối

c/ Không ích kỷ

d/ Yêu thương tuyệt đối

     3.3. MÔ HÌNH SYNANON:

Được thành lập vào năm 1958 tại California bởi một người đã từng nghiện rượu là Charles E. Dederich, sự phát triển của Synanon ban đầu được xuất phát từ quan điểm của AA. Do chương trình thích ứng với các trường hợp cai nghiện ma túy, chương trình Synanon AA dần trở nên tách biệtdẫn đến sự khác nhau hệ tư tưởng cũng như mối liên quan.

Mô hình Cộng đồng trị liệu của Synanon đang phát triển thành nhiều chương trình ở Mỹ và khắp thế giới gồm chín yếu tố cơ bản. Các yếu tố này dựa vào lý thuyết học tập xã hội,thông qua sử dụng cộng đồng để khuyến khích sự thay đổi về hành vi và thái độ. Chín yếu tố đó là:

«Tham gia tích cực:Người nghiện tham gia chủ động trong các hoạt động trong cộng đồng chữa bệnhcần thiết để thay đổi, trưởng thànhphát triển. Điều này có nghĩa là khi người nghiện tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, sẽ tăng cường mối liên kết giữa các thành viêngiữa thành viên với chương trình. Các thành viên được yêu cầu đóng góp cho cộng đồng. Sự đóng góp này được thực hiện dựa trên khả năng của từng cá nhân cũng như giá trị của mỗi nhiệm vụ mà họ thực hiện đối với cộng đồng.

«Phản hồi của thành viên: Những thành viên nhóm phải đóng góp ý kiến lẫn nhau một cách chân thật. Thông tin phản hồi của các thành viên được thực hiện một cách chính thức thông qua hoạt động của nhóm và các buổi trị liệu, hoặcphản hồi không chính thức như giao tiếp cá nhân. Mục đích của việc phản hồi là nhận thức về hành vi, suy nghĩ ý tưởng. Phản hồi bao gồm cả sự phản hồi tích cựcphê bình có tính xây dựng.

«Noi gương: Tất cả các cán bộ và thành viên cấp cao của cộng đồng phải thể hiện tốt để làm gương cho những thành viên khác như một phương tiện giáo dục. Đây là việc giáo dục thông qua hành động. Các thành viên của cộng đồng điều trị “không chỉ nói mà phải làm”.

«Tập thể hướng dẫn cá nhân thay đổi: nhấn mạnh của nhóm hoặc tác động củacộng đồng giúp cá nhân thay đổi. Tất cả các yếu tố trong mô hình SSLTMkhuyến khíchhỗ trợ cho cá nhân trưởng thành và phát triển.

«Các giá trị và chuẩn mực chung:cộng đồng xây dựng các quy tắc và giá trị chung để tạo ra áp lực của nhóm và của cộng đồng, để giúp đỡ từng thành viên của cộng đồng tuân thủ và dần tin vào những hành vi quan niệm tích cực. “Triết lý TC”“Những quy tắc bất thành văn” là những nội dung để thực hiện các giá trị và chuẩn mực.

«Kết cấu và hệ thống:để thực hiện các khái niệm và triết lý của SSLTM, các hoạt động cần được tổ chức có kết cấuhệ thống. Kế hoạch hoạt động hàng ngày, gặp mặt, nội quy, quy định, cấu trúc thứ bậc, công việc, mệnh lệnh nhóm, các giai đoạn điều trị là tất cả những nội dung để đạt được mục đíchmục tiêucủa cộng đồng.

«Giao tiếp mở:hoạt động giao tiếp được tiến hành theo chiều ngang và chiều dọc. Cộng đồng duy trì sự thống nhất thông qua việc khuyến khích các thành viên bộc lộ cảm xúc ý tưởng.

«Mối quan hệ cá nhân và nhóm: SSLTM tạo ra một mạng lưới quan hệ, tạo điều kiện cho các học viên có nhiều cơ hội để hiểu rõ hơn về hành vi, cảm xúcý tưởng. Mối quan hệ với nhân viên, nhóm người được chữa trị, nhóm tĩnh, cộng đồng sẽ giúp các cá nhân đảm nhận trách nhiệm, tăng cường hiểu biếtchấp nhận những thiếu sót của mình và làm cam kết thay đổi.

«Thuật ngữ chuyên dùng: thuật ngữ sử dụng bởi SSLTM là cách giải thích đơn giản về quá trìnhmôi trường hoạt động. Đó là ngôn ngữ chung tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng.

     3.4. TỔ CHỨC DAYTOP QUỐC TẾ:

Được bắt đầu đưa vào điều trị từ năm 1963 và hiện có mặt trên 60 quốc gia trên thế giới.

Tổ chức Daytop đã hỗ trợ rất nhiều người nghiện và thanh thiếu niên từ bỏ lệ thuộc vào ma túy và xây dựng một cuộc sống lành mạnh và có ích cho xã hội.Tình trạng sử dụng ma túy và nghiện ma túy diễn ra ở hầu khắp các nước trên thế giới và có tác động lớn đến các thành viên, gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội.

Tổ chức DAYTOP Quốc tếđược thành lập để cung cấp chương trình tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật giúp đỡ các quốc gia đối phó với sự gia tăng của tình trạng sử dụng ma túy.

¬Chương trình tập huấn Daytop dựa trên cơ sở mô hình trị liệu cộng đồng truyền thống lâu dài, mô hình này được tạo thành từ 9 yếu tố cơ bản:

1)    Sự tham gia tích cực của các thành viên/ người cai nghiện trong cộng đồng,

2)    Thu nhận ý kiến từng thành viên cộng đồng,

3)    Xây dựng mô hình trách nhiệm,

4)    Các mô hình hướng dẫn từng thành viên cộng đồng thay đổi,

5)    Chia sẻ các chuẩn mực và giá trị chung,

6)    Cơ cấu và hệ thống,

7)    Giao tiếp mở,

8)    Quan hệ cá nhân và quan hệ nhóm, và

9)    Thuật ngữ chuyên dùng (được áp dụng trong cộng đồng TC).

Tất cả những yếu tố này tạo nên moojt phương pháp cộng đồng TC, dựa trên phương pháp tự giúp đỡhọc tập xã hội. Chính cộng đồng thúc đẩy những thay đổi về thái độ, hành vi của thành viên. Thái độ, kỹ năng và trách nhiệm mà người vào cai nghiện học tập từ cộng đồng không chỉ cần thiết để giúp họ sống tốt trong môi trường cộng đồng đó mà còn là yếu tố quan trọng để họ có thể tồn tại khi trở về xã hội.

¬Mô hình tập huấn này được hình thành trên hoạt động thực tế của các Cộng đồng trị liệu Hoa Kỳ (TCA). Những cộng đồng này đã đào tạo cán bộ tư vấn có năng lực phù hợp để triển khai hiệu quả mô hình này. Năng lực của cán bộ tư vấn bao gồm:

1)    Phát triển các kỹ năng sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu và các công cụ đánh giá,

2)     Tăng cường động lực phát triển và thúc đẩy xây dựng hệ thống các quy định ưu đãi,

3)    Khuyến khích ý thức tự giúp đỡ và trợ giúp lẫn nhau,

4)    Phát triển khái niệm “không có sự tách biệt giữa chúng ta – họ”,

5)    Thực hành khái niệm “hành động theo chỉ dẫn”,

6)    Thúc đẩy sự phụ thuộc vào giai đoạn đầu của điều trị và tăng cường độc lập cá nhân vào giai đoạn tiếp theo,

7)    Tổ chức hoạt động nhóm,

8)    Quản lý hồ sơ,

9)    Thúc đẩy việc học tập xã hội thông qua làm gương, tác động đồng đẳng, và học tập thông qua trải nghiệm,

10)   Tiến hành xây dựng lòng tin trong cộng đồng,

11)   Thực hành theo các tấm gương tích cực,

12)   Chương trình tập huấn này đã mở rộng thêm một nội dung nữa – nội dung thứ 12 – phát triển các hành vi khắc phục khó khăn để thay đổi.

 

Để hiểu rõ tổ chứccác phương pháp điều trị của tổ chức này đề nghị các bạntham khảo tại mục Nghiên cứu Khoa học, bài thứ 3: “Cộng đồng trị liệu – một liệu pháp cai nghiện ma túy có hiệu quả cần được mở rộng ở Việt Nam” tại trang web của Trung tâm Thanh Đa do ông Trần Việt Trung – nguyên Phó Cục Trưởng Cục Phòng, Chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội biên soạn.

 3.5. CHƯƠNG TRÌNH MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU VÀ CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA:

Thông qua khảo sát các chương trình (SSLTM) chúng tôi nhận thấy chương trình SSLTM của tổ chức Daytop:

«Phù hợp với điều kiện Việt Nam nói chung và Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa nói riêng.

«Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đã thực hiện chương trình này hơn 12 năm và có kết quả rõ rệt.

«Nhiều cán bộ nhân viên Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa đã tham gia chương trình tập huấn tập trung dài hạn 04 tháng do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội kết hợp với tổ chức Daytop Quốc tế thực hiện. Khóa học có nội dung đồng bộ, phong phú và được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (người tài trợ chương trình này) đánh giá cao qua kết quả nghiệm thu được khảo sát và công bố năm 2009.

Do điều kiện đặc thùcủa học viênTrung tâm Thanh Đa – chương trình điều trị theo phương pháp Daytop Quốc tế đã được Trung tâm điều chỉnh một số mặt để phù hợp với thực tiễn và hoàn cảnh thực tế của Trung tâm.

II- KẾT LUẬN:

        Môi trường cộng đồng trị liệu không giốngnhư môi trường cộng đồng mà chúng ta đang sống. Có một số những đặc tính khiến cho cộng đồng này trở nên độc đáokhông giống bất kỳ loại cộng đồng nào: đó chính là sự tổng hợp của các yếu tố: cơ cấu tổ chức, yếu tố con người, những quy định điều chỉnh mối quan hệ tương giao giữa các thành viên của cộng đồng và hệ thống chia sẻ thông tin đã tạo nên cộng đồng. Nó phải là: “Môi trường học tập”. Môi trường này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa các thành viên và không khí học tập. Kết quả môi trường cộng đồng trị liệu là tạo ra một số những ảnh hưởng nhất định đến trạng thái tâm tư tình cảm, nhận thức về đạo đứcxã hội của người nghiện. Môi trường cộng đồng trị liệu tạo ra trật tự và một lối sống có mục đích trong các thành viên của nó. Chính bởi vì môi trường trị liệu cộng đồng thường có được cơ sở vật chất  cũng như cách tổ chức tốt nên nó là môi trường trị liệu tốt đối với các đối tượng tham gia chương trình. Tóm lại:

Môi trường cộng đồng trị liệu nhằm mục đích:

–   Bạn có thể thay đổibộc lộ bản thân mình.

–   Động lực của nhóm sẽ giúp đỡ cho sự thay đổi đó.

–   Tất cả các thành viêncủa cộng đồng cần phải có trách nhiệm.

–   Tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác để đánh giá cảm xúc.

–   Phương pháp thực hiện bao gồm:

+   Quản lý giám sát hành vi.

+   Chuyển biến tâm tư – tình cảm.

+   Điều trị cắt cơn – bệnh cơ hội – bệnh tâm thần.

+   Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc nhằm phục hồi nhận thức – hành vi nhân cách – tinh thần trách nhiệm – điều chỉnh những rối loạn tâm – sinh lý cho người nghiện ma túy.

C- NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ:

I.    NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN:

Vì tính chất đa dạng của bệnh nghiện ma tuý nên nếu sử dụng một vài biện pháp thì không đảm bảo đáp ứng hết được mọi yêu cầu cho công tác cai nghiệnmà phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp để phục vụ cho điều trị. Tuy Một số nguyên tắc cơ bản phải thực hiện:

    1/     XÂY DỰNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG:

1.1.Tôn trọng lẫn nhau.

1.2.Có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Lòng biết ơn.

1.3.Tự tin vào giá trị bản thân.

1.4.Biết thương yêuquan tâm  đến người khác.

1.5.Phối hợp trong công việc.

1.6.Trung thực – trách nhiệm – khiêm tốn – cởi mở.

1.7.Năng động sáng tạo – khả năng nhận thức tốt.

1.8.Tích cực lao động.

2/     XÂY DỰNG MỘT MÔI TRUỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN VÀ LÀNH MẠNH:

2.1-     Không ma tuý.

2.2-     Không có hành vi bạo lực hay đe dọa bạo lực.

2.3-     Không hành vi tình dục.

2.4-     Không trộm cắp.

2.5-     Luôn luôn nhắc nhở kiểm tra thực hiện các nguyên tắc cộng đồng đề ra.

2.6-     Đặt ra những quy định mới nếu thấy cần thiết.

      3/     NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC:

3.1.    Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ ngày được giám sát chặt chẽ.

3.2.    Phân công công việc rõ ràngcho từng thành viên.

3.3.    Có sự chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới và sự phản ánh kịp thời từ dưới lên.

3.4.    Đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định. Mọi hành vi được giám sát chặt chẽ và thường xuyên.

3.5.    Xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồngnhằm khuyến khích việc tích cực điều chỉnh hành vi.

3.6.    Phương pháp điều trịphải dựa trên nguyên tắc nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người nghiện.

4/     NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

4.1.     Phương pháp điều trị không bao giờ được làm tổn thương đến nhân phẩm đối tượng và phải được xây dựng trên những hiểu biết sâu sắc về ma túy và người nghiện.

4.2.     Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm nâng cao sức khoẻđiều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách, thông qua tư vấn – tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, hoạt động trị liệu, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu.

4.3.     Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị.

4.4.     Đối tượng cảm nhậnđược sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

4.5.     Đối tượng  cảm nhậnđược sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của đối tượng.

4.6.     Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tinh thần.

4.7.     Phải tạo được môi trường điều trị – phục hồi an toàn.

4.8.     Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thựctính cởi mở trong nguyên tắc cộng đồng đề ra.

4.9.     Kết hợp liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (xem mục PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN tại website này)

5/     NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NHANH SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

5.1    Phải có những nguyên tắc giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần sử dụng đến vũ lực.

5.2    Phải có những hoạt độngnhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị khác…).

5.3    Tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể  giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thựckhông lo ngại có sự chế diễu hayphản đối từ phía đối tượng khác.

5.4    Giúp đối tượng cũng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh qua biện pháp giáo dục tâm lý – xã hội cho dối tượng.

       6/     XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU:

6.1.        Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm.

6.2.        Đối tượng được nhóm, tổ chức phân công việc.

6.3.        Sử dụng nhóm đồng đẳng quản lý lẫn nhau.

6.4.        Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo, giao ban hay lịch phân công lao động đểquản lý.

6.5.        Giám sát nghiêm ngặt tuân thủ các loại quy định, nguyên tắccủa cộng đồng.

       7/     XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

7.1     Kế hoạch điều trị:

–   Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.

–   Xây dựngmột kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.

–   Kế hoạch này phải có những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.

–   Xác địnhnhững hoạt động diều trị cụ thểchỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được  mục tiêu yêu cầu điều trị đề ra.

–   Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

7.2    Theo dõi tiến độđiều trị của đối tượng theo kế hoạch đã đề ra: Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hơp đối tượng.

7.3     Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng,  phân công người quản lý theo dõi.

7.4    Nhận xét của nhân viên tư vấnvề sự tiến bộ của đối tượng.

7.5    Biên bảncủa những buổi tư vấn cá nhân, nhóm, gia đình.

7.6    Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.

      8/     XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

8.1    Dựa trên các tiêu chuẩn đã đề ra để khen thưởng các học viên tích cực.

8.2    Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng như : viết thư, tặng quà lưu niệm, biểu  dương trước tập thể…

8.3    Đi dã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị.

8.4    Cho về thăm gia đình.

Việc khen thưởng này tùy thuộc vào từng hoàn cảnh trung tâm – trường – trại – địa phương.

II.    CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT:

1/         NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NGƯÒI XỨNG ĐÁNG VÀ MẪU MỰC: Đôi ngũ điều trị phải làm thế nào để đối tượng tôn trọng. Họ phải là tấm gương sángcho đối tượng để có thể ảnh hưởng giáo dục nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi,nhân cách của học viên.

Người nghiện ma tuý thường thực hiện nhiều hành vi không tốt, nhưng họ ít thấyhay biện minh cho bản thân mình, trong khi đó họ lại rất tinh ýnhạy bénnhận xét những điều không tốt của người khác. Do đó, nếu nhân viên điều trị không gương mẫu khó có thể chuyển đổi đối tượng.

Đối với đồng nghiệp nhân viên điều trị phải tuân thủ những quy định, những mối quan hệ thân thiện.

Đối với đối tượng nhân viên điều trị phải thương yêuđồng cảm nhưng cũng phải xác định một ranh giới không thể vượt qua của người quản lý và đối tượng.

2/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI ĐẢM BẢO KHÔNG CÓ MA TUÝ HOẶC CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN KHÁC:

Một môi trường trị liệu để lọt ma tuý vào sẽ gây lây lan bệnh tật, tinh thần học viên không bình ổn, thiếu quyết tâm cai nghiện, dễ bức xúc phá vỡ chương trình điều trị.

          Đây là yếu tố tiên quyếtvì nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ phá huỷ toàn bộ kế hoạch, hệ thống hoạt động của Trung Tâm.

3/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ MỘT NƠI AN TOÀN KHÔNG CÓ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC: mọi hoạt động diễn ra một lối sống không có ma tuý, không có cảnh ức chế nhau, nơi mà hành vi của một người luôn đượccác người khác xem xét, góp ýkhông hề do một áp lực nào, một ý đồ xấu nào và được giáo dục liên tụcvề một nếp sống nề nếp chuẩn mực.

4/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NƠI ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ GIÚP ĐỠ ĐIỀU CHỈNH SAI LẦM CHO NHAU .

5/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI CÓ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ HÀNH VI VÀ NHÂN CÁCH NHƯ MỘT XÃ HỘI GƯƠNG MẪU nhằm những tiêu chuẩn sau đây:

+Trách nhiệm quan tâm đến người khác.

+Trung thực, không dối trá.

+Thương yêu, cởi mở, chân thành.

+Đoàn kết.

+Kỷ luật.

+Nhận biết được bổn phận, trách nhiệm.

6/         MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU PHẢI DỰ KIẾN MỌI BIỆN PHÁP KHI CÓ TÌNH HUỐNG XẤU: Phải can thiệp ngay kịp thời khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.

7/         CÁC ĐIỀU KIỆN Y TẾ – GIÁO DỤC – QUẢN LÝ – CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ TRÌNH ĐỘ VÀ NHIỆT TÌNH ĐỂ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG ĐƯỢC VÀ KỊP THỜI MỌI TÌNH HUỐNG.

8/         CẦN CÓ MỘT THOẢ THUẬN ĐIỀU TRỊ NÓI LÊN QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN: Thỏa thuậnphải nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâm. Nội dung thoả thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đếnmột sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội và thu thập những kỹ năng để vượt qua thử thách tái nghiện.

9/         NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

9.1-         Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Vai trò của những người có trách nhiệm, uy tín trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập của các thành viên.

9.2-          Họ nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nóiviệc làm của nhữngngười có vị trí trách nhiệm đối với các thành viên trong cộng đồng. Phải biết rằngcác thành viên trong cộng đồng luôn theo dõi việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắcgiá trị của cộng đồng hay không, cũng như theo dõi mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong cộng đồng, không được để các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng . Bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nóihành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trịcó thể sẽ được người nghiện lợi dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.

9.3-         Để thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nắm rõ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản lý thành công nhất là, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để họ học tập là những minh họa cụ thể trong giáo dục người nghiện. Những người quản lý không chỉ đảm bảo sự tồn tại, duy trì hoạt động của “môi trường trị liệu cộng đồng” mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thật sự cho người nghiện ma túy.

9.4-         Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người cai nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ làbằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma tuý, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩcảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ bản lĩnh của mình đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những người hướng dẫn rất có hiệu quả trong môi trường trị liệu cộng đồng – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với việc thông hiểu những suy nghĩ , thậm chí cả những mánh lới của đối tượng. Tuy nhiên việc sử dụng người cai nghiện thành công vào công tác quản lý của Trung tâm là vấn đề phức tạp như việc dùng dao hai lưỡicó thể tốt nhưng cũng có thể rất nguy hiểm nếu họ có ý đồ xấu thiếu trình độ hoặc tái nghiện lại. Do đó, để xử lý tình huống, người cán bộ quản lý phải có khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

Giai đoạn cắt cơn – giải độc – nâng cao sức khỏe

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

        I.   ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

Nguyên nhân ngộ độc các chất dạng thuốc phiện: là do người nghiện sử dụng các chát dạng thuốc phiện (CDTP) quá liều. Mức độ dung nạp lượng ma túy mỗi người nghiệnkhác nhau, tăng dần theo thời gian sử dụng (trường hợp đối tượng sau điều trị cắt cơn vẫn sử dụng liều lượng cũ, không giảm cũng sẽ bị ngộ độc). Ngộ độc CDTP thường gặptrong điều trị cấp cứu liên quan đến sử dụng ma túy. Sự thành công của điều trị ngộ độc CDTP đòi hỏi đánh giá trên 03 mặt:

–         Mức độ nhận thức (Bệnh nhân hồi tỉnh sớm hay muộn).

–         Khai thông đường thở.

–         Sử dụng một antidote hợp lý.

Tác dụngcủa ma túy nhóm OMH rất nhanh, khoảng 30 giây theo đường tĩnh mạch và 01 giờ theo đường uống. Phải sử dụng xét nghiệm cận lâm sàng kết hợp vớichẩn đoán lâm sàng trongngộ độc ma túy nhóm Opiates. Điều trị ngộ độc nhóm CDTP đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên môn nhạy bén, giải quyết kịp thời.

1/ CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

1.1       Hiện đang sử dụng nhóm Opiates. Bệnh sử có sử dụng ma túy nhóm Opiates.

1.2       Phương diện lâm sàng có những triệu chứng thay đổi hành vi hoặc thay đổi các yếu tố tâm thần.

(Vd: Hưng cảm tiên phát sau đó có trạng thái vô cảm, rối loạn cảm xúc, tâm thần tự động hoặc sa sút, giảm sút sự phán đoán hoặc tổn hại chức năng xã hội).

1.3       Co đồng tử(Đôi khi giãn đồng tử do triệu chứng quá liều nặng), kèm theomột hoặc hơn những dấu hiệu sau khi sử dụng ma túy nhóm Opiates:

–         Ngủ gà hoặchôn mê

–         Nói lắp.

–         Giảm tập trung hoặctrí nhớ.

1.4       Trên lâm sàng có những đặc điểm kèm theo như: giảm hô hấp có thể dẫn đến ngưng thở, rối loạn nhịp tim chậm, giảm thân nhiệt, giảm phản xạ, nôn ói, hôn mê.

1.5       Những triệu chứng trên không do bệnh cơ thể, và loại trừ những nguyên nhân ngộ độc khác.

2/ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN cần thiết trong một cơ sở đượctrang bị đầy đủ cho cấp cứu nội khoa.

+   Điều trị khởi đầu: Đánh giá đầu tiên là đường thở, phải xử lý trợ giúp kịp thờibằng mọi phương tiện như dụng cụ bóp bóng, Oxy nguồn, hoặc thông đường thở. Bệnh nhân có thể rơi vào tình trạng nặng của phù phổi cấp.

Các thuốcđược sử dụng như: Glucoza ưu trương, chất đối kháng Opiumnhưnaloxone.

+   Sau khi điều trị cấp cứucần theo dõi tiếp tục để điều trị nâng đỡ, chú ý đến tình trạng tụt huyết áp, rối loạn thân nhiệt. Nếu sau khi điều trị bằng Naloxon với tổng liều 10mg bệnh nhân vẫn chưa hồi tỉnh nên hướng tới một chẩn đoán của một loạingộ độc khác tương tự như ngộ độc thuốc phiện.

3/ XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC NHÓM CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

Trước hết phải để người bệnh nằm ở phòng thoáng mát để tiến hành cấp cứu (tốt nhất là chuyển đến khoa hồi sức cấp cứu càng sớm càng tốt)

3.1 NẾU NGUỜI BỆNH CÓ BIỂU HIỆN NGẠT THỞ

Tiến hành thổi ngạt, nếu không kết quả thì tiến hành bóp bóng AMBU, nếu người bệnh có biểu hiện nặng hơn (ngừng thở hoặc tím tái nhiều) thì cho thở máy.

3.2 TIÊM NALOXONE (THUỐC GIẢI ĐỘC ĐẶC HIỆU)

–         Tiêm tĩnh mạch chậm Naloxone: ống 0,4mg x 01 ống/lần tiêm; có thẻ tiêm tiếp lần thứ 2 sau 05 phút.

–         Có thể truyền tĩnh mạch Naloxone bằng cách hòa 2mg Naloxone (5 ống) trong 500ml Natri clorua (NaCl) 0.9%, tốc độ truyền thay đổi tùy theo đáp ứng lâm sàng.

–         Có thể dùng Naloxone tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với tổng liều có thể tới 10mg.

3.3 KẾT HỢP GIẢI ĐỘC BẰNG TRUYỀN CÁC DUNG DỊCH MẶN, NGỌT ĐẲNG TRƯƠNG.

3.4 THEO DÕI LÂM SÀNG:

a)   Quan sát sự đáp ứng của người bệnh khi tiêm hoặc truyền Naloxone

–         Nếu đồng tử giãn ra, thở lại, tỉnh ra, đỡ dần tím tái,…tức là tình trạng tốt dần lên.

–         Nếu kích thước đồng tử co dưới 2mmtriệu chứng còn ngộ độcOpiats.

–         Nếu đồng tử giãn trên 3mmcó kèm theo trụy tim mạch, tím tái, tức là biểu hiện của quá liều Naloxone.

b)  Tiếp tục theo dõi người bệnh 4 giờ sau khi dùng liều Naloxone cuối cùng.

      II.   ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CAI CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP) – (ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN)

Điều trị cắt cơn nghiện chất dạng thuốc phiện chủ yếu nhằm giúp cho người nghiện vượt qua hội chứng cai mà không bị đau đớn, vật vã, nhất là trong trường hợp nghiện nặng. Cắt cơn nghiện không phải là cai nghiện ma túy mà đó chỉ là bước đầu của điều trị, còn vấn đề chính củađiều trị phục hồi hệ thống não bộ, chuyển đổi nhận thức – hành vi – nhân cách, giải quyết cácchấn thương tâm lý, cácmâu thuẫn rối loạn nội tâm củađối tượng. Các liệu pháp này cần một thời gian điều trị lâu dàibằng cách kết hợp giữa điều trị thuốc với các liệu pháp tâm lý – giáo dục – xã hội.Trong đó điều trị bằng thuốc chỉ là liệu pháp hổ trợ.

1.      PHƯƠNG PHÁP CAI KHÔ: Cai khô còn gọi là cai chay được áp dụng tại Mỹ năm 1938, bằng cách cô lập bệnh nhân, không cho tiếp xúcvới môi trường bên ngoài,ngừng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túylàm cho người nghiện lên cơn vật vã. Cơn nghiện sẽ giảm dần sau 7 – 10 ngày. Phương pháp này hiện nay được một số nước Châu Á như Indonesia, Malaysia, Brunei sử dụng.

2.      PHƯƠNG PHÁP CAI DẦN: Bằng cách giảm liều lượng ma túymỗi ngày trong thời gian từ 15 – 30 ngày, đồng thời tăng cường thuốc bổ và thuốc an thần.Phương pháp này có ưu điểm là người nghiện thích nghi dần, cơn nghiện giảm từ từ, không vật vãnhư phương pháp cai khô, nhược điểm là đòi hỏi phải dùng chất ma túy, thời gian cắt cơn kéo dài.

3.      CẮT CƠN CỰC NHANH: Có thể điều trị hội chứng cai phương pháp cực nhanhbằng cách sử dụng đồng thời:

–         Gây mê ngắn(2-3 giờ), đồng thời tiêm naloxoneđể thúc đẩy hội chứng cai ngay lập tức.

–         Kết hợp với tiêm Catapressanđể điều trị các triệu chứng của hội chứng cai.

–         Sau đó điều trị tiếp hội chứng cai nhẹ còn lại, theo phác đồ dùng Catapressan. Người bệnh có thể ra viện sau điều trị tại bệnh viện 01 ngày.

4.      LIỆU PHÁP TÂM LÝ: Liệu pháp tâm lý có thể giảm nhẹcác triệu chứng của hội chứng cai(chỉ áp dụng với người nghiện nhẹ, trung bình). Thậm chí không điều trịgì sau 5 – 10 ngày hội chứng cai cũng thuyên giảm do cơ thể tự điều chỉnh cân bằngtrở lại. Việc điều trị chỉ là hổ trợ giảm khó chịucho người bệnh, giúp họ vượt quahội chứng cai.

5.      PHƯƠNG PHÁP THỤY MIÊN: Cho bệnh nhân giấc ngủ nhân tạotừ 3–7 ngày,nuôi dưỡng bệnh nhânbằng truyền dịch, săn sóc đặc biệt. Phương pháp này có tác dụng làm người cai nghiện bớt cơn vật vã. Thường hết hợp chlorpromazinevớidiazepam, phenobarbital. Phương pháp này có ưu điểmlàm giảm bớt cơn vật vã, bệnh nhân không đau đớn, nhưng nhược điểmlà nếu nội tạng có bệnh lýsẽ gặp khó khăntrong chẩn đoánđiều trị, ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh. Thời gian cai nghiện từ 7 – 10 ngày.

6.      PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT THÙY TRÁN: Phẫu thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy trán của não liên quan đến sư thèm muốn ma túy, làm cho người nghiệnkhông còn thèm muốn chất ma túy nữa. Phương pháp này có nhược điểmsau khi phẫu thuật, bệnh nhân trở nên không bình thường, không phân biệt được phải, trái của hành động. Viện Hàn lâm Y học Nga đã công bố thành tựu nghiện cứu này do GS.Natalia Bectereva thực hiện. Trong số 34 người nghiện đã phẫu thuật, có 27 ngườikhông trở lại với ma túy (đạt tỷ lệ 80%).

7.      CẮT CƠN BẰNG THUỐC CATAPRESSAN (CLONIDINE):

(1)Cơ chế:

Catapressanlà loại thuốc hạ huyết áp, α blocker có tác dụng ức chế dẫn truyền noradrenaline.

Catapressankhi vào cơ thể tác dụng vào thụ thể α 2, tăng ức chế dẫn tới nồng độnoradrenaline giảm xuống, do đó, dẫn đến hội chứng cai nhẹ.

(2)Liều lượng và cách sử dụng:

+ Catapressan 0.15 mg x ½ viên một lần, cứ 3 giờ một lần (liều hàng ngày từ 2-4 viên).

+ Chỉ điều trị khi huyết áp tối đa > 90mHgmạch > 60l/ phút.

+ Còn kết hợp điều trị thuốc chống đau nhức Panacetamol và an dịu, chống lo âuDiazepam.

8.      PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG CHẤT THAY THẾ : (METHADONE)

Thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, sau đó giảm liều dần(kéo dài khoảng 20 ngày đến 2 tháng) rồi cắt thuốc methadone khi liều còn rất thấp(hội chứng cai nhẹ hơn). Hiện nay phương pháp này ít được áp dụngchủ yếu sử dụng méthadone vào điều trị thay thế lâu dài.

9.      PHƯƠNG PHÁP DÙNG THUỐC ĐỐI KHÁNG: Phương pháp dùng thuốc đối khángNaltrexone kết hợp với Clonidine, đã được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới. Phương pháp này có ưu điểm là làm cho bệnh nhân sớm bỏ thèm nhớ chất ma túynhững có nhược điểmvật vã, bức rức, khó chịu, có thể gây ngộ độc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy.

10.  THUỐC ĐÔNG Y: Thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo dược, nên an toàn, không độc, có hiệu lực trong hổ trợ cắt cơn nghiện ma túy, thuốc có khả năng bình ổn các triệu chứng của hội chứng cai. Nhược điểm của các thuốc Đông y là chưa thực hiện được nghiên cứu mù képcơ chế tác dụng của thuốc. Hai thuôc Đông y hiện đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành trong các Trung tâm cai nghiện là Cedemex và thuốc Bông sen.

11.  PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU, ĐIỆN CHÂM: Theo phác đồ của Bộ Y tế. Châm cứu có ưu điểm cắt cơn nhanh, ít tốn kém, dễ thực hiện tại tuyến cơ sở.

12.  HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC AN THẦN KINH: Phác đồ này được Bộ Y tế Việt Nam ban hành từ năm 1995 và đang được áp dụng điều trị tại nhiều Trung tâm cai nghiện tại Việt Nam.

Tiêu chuẩn điều trị:

+ Đặt trong một cơ sở khép kín, tránh được mọi can thiệp và xâm phạm từ bên ngoài. Có trang bị đủ thuốcphương tiện để khám chữa bệnhcấp cứu.

+ Có y, bác sĩ được tập huấn về lý thuyết và thực hành để điều trịxử trí những trường hợp cấp cứu thường gặp, có sự chỉ đạo của bác sĩ chuyên khoa tâm thần phụ trách về điều trị nghiện ma túy.

+ Bảo đảm các điều kiện ăn, ở, vệ sinh thuận lợi cho bệnh nhân (thời gian cắt cơn trung bình là 10 ngày).

+ Cơ sở Y tế có khả năng tự làm hoặc liên hệ với các cơ quan khác làm các xét nghiệm cần thiết (morphine trong nước tiểu, HIV,…).

Tiêu chuẩn bệnh nhân:

Bệnh nhân phải có đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán trạng thái nghiệnhội chứng cai

Trạng thái nghiện(theo bảng phân loại bệnh quốc tế 10): cóít nhất 3 trong 6 hiện tượng sau đây:

–       Thèm muốn mãnh liệtchất ma túy (CMT)

–       Sau khi ngưng dùng CMT từ 6 8 giờ sẽ xuất hiện hội chứng cai, buộc phải dùng CMT trở lại.

–       Khó khăntrong việc kiểm tra tập tính sử dụng CMT

–       Có hiện tượng dung nạp CMT (liều dùng ngày càng tăng).

–       Sao nhãng các thích thú cũ.

–       Biết rõ tác hạicủa CMT nhưng vẫn tiếp tục dùng.

ŸHội chứng cai: ít nhất 4 trong 12 triệu chứng sau đây:

–         Thèm CMT,

–         Buồn nôn hay nôn,

–         Đau các cơ,

–         Chảy nước mắt nước mũi,

–         Nổi da gà,

–         Toát mồ hôi,

–         Đi rửa,

–         Dãn đồng tử,

–         Ngáp,

–         Ngây ngấy sốt,

–         Mất ngủ,

–         Cảm giác dòi bò trong xương.

Quy trình sử dụng thuốc hướng thần:

a./Thuốc giải lo âu: dẫn xuất benzodiazepine như diazepam ( seduxen, valium):

Trạng thái lo âu (nôn nao, bồn chồn) là trạng thái tâm thần cơ bản, thường xuyên có và tăng cường các triệu chứng thần kinh thực vật của hội chứng cai. Những người cai nhiều lần, do nhớ lại những cảm nhận đau khổ trong những lần trước càng lo âu nhiều hơn. Do vậy thuốc giải lo âu cần sử dụng trước tiênliên tục nhất là trong 1-2 ngày đầu.

Không cho diazepam, nếu có các chống chỉ định sau: dị ứng với diazepam, suy hô hấp mất bù, nhược cơ.

Cách cho thuốc diazepam (seduxen, valium), viên nén 5mg

–         Hai ngày đầu: uống 4 viên mỗi lần; cách 4 giờ lại cho uống 1 lần, cho đến khi hết bồn chồn và ngủ yên.

–         Sau khi tỉnh giấc nếu vẫn còn lo âu thì tiếp tục cho thuốc như trên

–         Ngày thứ 3, 4 bắt đầu giảm liều: 2 viên/lần, cách từ 6-8 giờ cho thêm 1 lần.

–         Ngày thứ 5 cắt hẳn thuốc để tránh khả năng gây nghiện diazepam.

b./ Thuốc an thần kinh: levomepromazin (tisercin, nozinan):

Đa sốcác biểu hiện của hội chứng cai và các rối loạn thần kinh thực vật có thể thanh toán bằng diazepam.

Nếu có một triệu chứng nặng hơn(ví dụ: vật vã, kích động) hay phức tạp (ví dụ: cảm giác dòi bò trong xương) thì mới sử dụng levomepromazin, một loại an thần kinh, an dịu mạnh.

Không dùnglevomepromazin nếu có các chống chỉ định sau: dị ứng vớilevomepromazin, glaucoma góc đóng, bí tiểu tiện do u tuyến tiền liệt, có tiền sử mất bạch cầu nhiễm độc.

Ÿ  Liều lượng: phụ thuộc vào trạng thái tiếp thu của cơ thể và mức độ nghiện của từng bệnh nhân. Sau đây là các phương thức sử dụng trung bình:

Ÿ  Cách cho thuốc: levomepromazin viên nén 25mg

–         Lần đầu cho uống 2 viên

–         Lần 2: sau một giờ nếu chưa an dịu và huyết áp tối đa bằng hay cao hơn 100 mmHg thì cho uống thêm 4 viên.

–         Lần 3: sau một giờ vẫn chưa an dịu và huyết áp như trên thì cho uống thêm 4 viên

–         Lần 4 và những lần sau: đợi sau 2 giờ nếu chưa an dịu và huyết áp như trên thì cho uống thêm 2 viên.

Kết quả nghiên cứu vủa Viện Sức khỏe tâm thần cho thấy: sau từ 2-6 giờ (từ 4-16 viên, trung bình 10 viên) thì bệnh nhân an dịu và ngủ ngon (có thể ngủ đến 16 hay 20 giờ liền)

Không cần thêm nếu bệnh nhân ngủ dậy không còn vật vã, kích động.

Trong khi dùng levomepromazin cần bố trí người săn sóctheo dõi liên tục để bệnh nhân khỏi ngã khi đứng dậy hay di chuyển.

Ÿ  Đặc biệt cần theo dõi huyết áp thường xuyên, nhất là trước khi cho uống thêm levomepromazin. Nếu huyết áp hạ cần cho phối hợp thêm thuốc nâng huyết áp.

c./ Thuốc nâng huyết áp: heptaminol (Hept – A – Myl):

Chỉ sử dụng khi huyết áp tối đa dưới 100mmHg. Thường gặp sau khi dùnglevomepromazin liều cao hay ở những bệnh nhân tiêm chích sái thuốc phiện.

Heptaminolviên nén 0.2g; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

–         Có thể dùng từ 2-3 ngày sau khi phát hiện hạ huyết áp và thôi dùng khi huyết áp trở lại bình thường.

–         Nếu huyết áp tụt nhiều cần xử trí cấp cứu và dùng thuốc tiêm hay thuốc viên.

Heptaminol ống 5ml (0.3g) mỗi lần 1-2 ống; 2-3 lần trong 24 giờ. Tiêm bắp hay tĩnh mạch chậm hoặc truyền tĩnh mạch trong dung dịch natriclorid 0.9% hoặc dung dịch glucoza 5% 500ml.

d./ Paracetamol:

–         Nếu bệnh nhân đau nhức cơ bắp nhiều có thể dùng thêm thuốc giảm đau.

–         Paracetamol viên nén 0.5g.

–         Uống mỗi lần 2 viên; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

–         Có thể dùng trong 3 ngày đầu.

e./ Thuốc chống co thắt: phloroglucinol (spasfon):

Nếu bệnh nhân có triệu chứng đau quặn cơ bụng do co thắt các nội tạng, đường tiêu hóa cần dùng thêm thuốc chống co thắt.

Spasfon viên nén 80mg, uống mỗi lần 2 viên; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

Có thể dùng từ 1-3 ngày

Nếu không có spasfon, có thể dùng Alverine (spasmaverine) viên nén 40mg; uống mỗi lần 1-2 viên; ngày uống 3-4 lần

g./ Thuốc chống tiêu chảy và mất nước:

Tiêu chảynôn trong hội chứng cai thường do tăng nhu động ruột, dùng spasfon với liều lượng ở trên cũng có thể chữa khỏi.

Nếu tiêu chảy kéo dài kèm thêm vã mồ hôi, nôn, gây trạng thái mất nước, cần chouống thêm dung dịch oresol (dung dịch uống glocosa – điện giải)

Một gói (theo công thức của Tổ chức y tế thế giới) hòa với một lít nước đun sôi để nguội.

Cho uống từ 3-4 lít nước trong 24 giờ chia làm nhiều lần.

h./ Thuốc gây ngủ: Alimemazin (théralène):

Hầu hết các trường hợp dùng diazepam và levomepromazin với liều lượng kể trên đã làm cho bệnh nhân yên tĩnh, ngủ ngon và ngủ lâu.

Sau khi cắt diazepamlevomepromazin nếu vẫn còn mất ngủ thì dùng alimemazinmột loại thuốc ngủ không gây nghiện, có thể dùng lâu dài.

Alimemazin viên nén 5mg; uống 2-4 viên trước giờ ngủ; có thể cho uống thêm từ 2-4 viên nếu bệnh nhân chưa ngủ được.

Dùng thuốc đến khi giấc ngủ trở lại bình thường thì giảm liều rồi cắt hẳn.

i./ Điều trị hoàn thiện: Để thực hiện phương châm điều trị toàn diện cần:

Ÿ   Đặc biệt chú trọng đến chế độ dinh dưỡng nhất là trong những ngày đầu (ăn mềm, có chất đạm và sinh tố). Nếu cơ thể suy sụp cần tiếp nước điện giải, cho thêmvitamin Cvitamin nhóm B uống.

Ÿ   Đối với bất cứ loại bệnh nào trong khi điều trị vẫn có thể có các trường hợp cấp cứu xảy ra. Do vậy, đơn vị điều trị phải được trang bị thuốc cấp cứu, các phương tiệnphác đồ cấp cứu. Y bác sĩ phải biết sử dụng phác đồ cấp cứu và các phương pháp nội – ngoại khoa cấp cứu thường gặp.

    III.   KẾT LUẬN:

Để cai nghiện ma túy có hiệu quả, chúng ta phải hiểu rằng cắt cơn nghiện không khó. Cắt cơn nghiện chỉ là bước chuẩn bị cho một quá trình điều trị lâu dài thông qua các biện pháp điều trị kết hợp giữa thuốcliệu pháp không dùng thuốc. Trong đó, liệu pháp không dùng thuốc là quan trọng, liệu pháp này bao gồm:

–         Tư vấn

–         Liệu pháp tâm lý

–         Liệu pháp giáo dục

–         Liệu pháp xã hội

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

1.     Người nghiện và gia đình người nghiện tự khai báo và đăng ký hình thức cai nghiện (bắt buộc, tự nguyện) với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

2.     Các hình thức cai nghiện:

– Có thể cai nghiện tự nguyệnở gia đình, tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện tập trung do nhà nước quản lý hoặc cơ sở dân lập, tư nhân.

– Cai nghiện bắt buộcđược áp dụng tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện tập trung nếu người nghiện trốn tránh không đăng kí hình thức cai nghiện.

3.     Thời hạn cai nghiện tại gia đình hoặc cộng đồng từ 06 đến 12 tháng, tại các cơ sở bắt buộc từ 01 đến 02 năm. Người đang cai nghiện bắt buộc tập trung tại cơ sở cai nghiện mà phạm tội thì sau khi chấp hành hình phạt xong phải tiếp tục cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4.     Quản lý sau cai:

– Người nghiện ma túy sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộctại cơ sở cai nghiện phải chịu sự quản l‎‎ý sau cai nghiện từ 01 năm đến 02 năm theo một trong hai hình thức sau đây:

+ Quản lý tại nơi cư trúdo Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.

Quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiệnđối với người có nguy cơ tái nghiện cao.

5.     Trách nhiệm của gia đình:

Tự giác khai báo về tình trạng nghiện ma túy và đăng ký hình thức cai nghiện, động viên giúp đỡ và quản lý người thân nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng theo sựhướng dẫn,giám sát của cán bộ y tế và ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn.

6.     Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn:

Tổ chức quản lýtạo điều kiện cho người nghiện được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. Tổ chức quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ người sau cai nghiện phòng, chống tái nghiện; hỗ trợ học nghề, tìm việc làm và tham gia các hoạt động xã hội để hòa nhập cộng đồng đối với người được quản lý tại nơi cư trú.

7.     Trách nhiệm của cơ quan công an:

Lập hồ sơ xử lý đối tượng vi phạm, thi hành quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh truy tìm đối tượng bỏ trốn, cưỡng chế đưa vào trung tâm cai nghiện.

8.     Trách nhiệm cơ sở chữa bệnh và cơ sở quản lý sau cai nghiện:

Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác cai nghiện, quản lý sau nghiện và tổ chức quản lý dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện tại các trung tâm.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN NHÓM MA TÚY TỔNG HỢP

Đang cập nhật