Nghiện ma túy “đá”, cai thế nào?

ANTĐ – Ngoài việc sử dụng những loại ma túy truyền thống như thuốc phiện, heroin, cần sa… dân nghiện ma túy đang có xu hướng chuyển dần sang sử dụng các loại ma túy tổng hợp (MTTH). Việc điều trị chữa bệnh, cai nghiện cho nhóm đối tượng nghiện MTTH hiện đang là một vấn đề nan giải bởi vẫn chưa có một phác đồ điều trị chính thức cho những người nghiện này.

Ma túy “đá” chiếm ngôi “độc tôn”

Hiện tỉ lệ người sử dụng MTTH như ketamin, ma túy “đá” (Methamphetanim), thuốc lắc (Ecstasy)… đang có chiều hướng gia tăng mạnh. Nếu như trước đây tỉ lệ nghiện MTTH chỉ khoảng 1% số người nghiện thì hiện nay con số này là khoảng 10%. Một điều đáng báo động, số người sử dụng MTTH thường tập trung vào những người trẻ. Theo thống kê của Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an TP Hà Nội, qua thực tế và số liệu nghiên cứu cho thấy có tới 72% người sử dụng ma túy tổng hợp là giới trẻ ở độ tuổi 18-30, độ tuổi trên 30 chiếm 26%, riêng độ tuổi dưới 18 ở mức 2% nhưng có xu hướng gia tăng.

Trong các loại MTTH, phổ biến và hiện được chuộng nhất là ma túy “đá”. Ma túy “đá” lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam là vào tháng 4-2006 trong một nhà nghỉ ở Hà Nội. Sự có mặt của ma túy “đá” trong giới trẻ gần như đã chiếm ngôi “độc tôn” của thuốc lắc, một loại ma túy tổng hợp vốn được giới ăn chơi ưa chuộng một thời.

Cùng với thuốc lắc, ketamin, ma túy “đá” thực sự đã làm cho một bộ phận giới trẻ bị cuốn vào vòng xoáy chết người, không chỉ bị hủy hoại về sức khỏe mà còn cả về tinh thần. Ma túy “đá” không những làm ức chế, phá hủy hệ thần kinh, gây ảo giác khiến người sử dụng không làm chủ hành vi, làm thay đổi nhân cách nhanh chóng trong thời gian ngắn mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Trong thời gian qua, đã có rất nhiều những vụ án xảy ra mà nguyên nhân bắt nguồn từ việc đối tượng phạm tội bị “ngáo đá”.

Dễ nghiện nhưng khó cai

Theo một cán bộ của Phòng Cảnh sát Hình sự, Công an TP Hà Nội, sở dĩ có xu hướng chuyển từ sử dụng heroin sang sử dụng ma túy “đá” ngoài cảm giác mới mẻ, sành điều là còn bởi phần lớn người dùng ma túy “đá” quan niệm loại ma túy này không bị nghiện và có thể dừng sử dụng bất cứ lúc nào cũng được. Mà nếu có nghiện thì cai ma túy “đá” cũng không bị vật vã, đau đớn như cai heroin. Tuy nhiên, thực tế thì việc sử dụng ma túy “đá” không chỉ gây nghiện mà nếu sử dụng trong một thời gian dài, nó còn khiến cho những người sử dụng có dấu hiệu bị hoang tưởng, ảo giác, rối loạn tâm thần. Còn đối với những người đã từng nghiện heroin khi chuyển sang dùng ma túy đá thì bị rối loạn tâm thần còn nhanh hơn.

Việc cai nghiện MTTH rất khó khăn, thông thường người nghiện heroin chỉ điều trị từ 7-10 ngày là cắt cơn nhưng với người nghiện MTTH phải cần tới hơn 20 ngày nhưng sau đó vẫn bị ảo giác, rối loạn tâm thần kéo dài. Hội chứng cai của ma túy đá không giống hội chứng cai của heroin, có nghĩa là không có cảm giác đau nhức, không tiêu chảy, không ớn lạnh nổi da gà, không có cảm giác dòi bò trong xương, không vật vã… mà buồn chán, mất khoái cảm, cảm giác mệt mỏi, kiệt sức, chậm chạp hoặc lầm lỳ, dễ bị kích động, dễ nổi giận, có thể hoang tưởng ảo giác, không kiểm soát được cảm xúc, hành vi.

Theo bác sĩ Nguyễn Văn Dũng, Viện Sức khỏe Tâm thần Bạch Mai, đối với ma túy “đá”, người dùng một lần liều ít dưới 0,5mg có biểu hiện hưng phấn, mất ngủ, nói nhiều, nhảy nhót, quan hệ tình dục quá mức. Nếu liều trên 0,5mg thì bị rối loạn cảm xúc hưng cảm tột độ. Bệnh nhân thể hiện mình quá nhiều, thích can thiệp vào những chuyện của người khác, tấn công gây rối loạn trật tự công cộng. Còn với người dùng trên 10mg thường có biểu hiện ngộ độc, mê sảng và dễ tử vong. Việc điều trị cho những bệnh nhân sử dụng ma túy “đá” rất khó khăn vì thường sau một thời gian sử dụng loại ma túy này, bệnh nhân bị rối loạn tâm thần, tổn thương não nặng. Nhiều bệnh nhân có thời gian sử dụng MTTH kéo dài với liều lượng lớn có thể phải mất từ 6 tháng đến 1 năm điều trị thì hành vi mới lại bình thường. Nếu một người sử dụng heroin kèm theo sử dụng ma túy “đá”, chỉ vài tháng sử dụng liên tục sẽ xuất hiện những biểu hiện tâm thần, kèm theo thể trạng suy kiệt.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, tại Việt Nam hiện tại Bộ Y tế chưa chính thức phê chuẩn một phác đồ cai nghiện MTTH nào. Hiện có rất ít trung tâm cai nghiện ma túy nhận người nghiện MTTH do điều trị cho người nghiện MTTH phức tạp hơn nhiều so với người nghiện heroin. Trong khi đó, không phải bất cứ trường hợp nào nghiện MTTH cũng được bệnh viện có khoa Tâm thần tiếp nhận mà chỉ nhận trường hợp nặng. Bệnh viện cũng chỉ điều trị trong một thời gian, rồi sau đó cấp thuốc và “trả” bệnh nhân về để theo dõi tiếp. Cùng với việc tuân theo các tiêu chuẩn về điều trị cho người nghiện ma túy nói chung, tại một số trung tâm cai nghiện hiện vẫn phải điều trị cho người nghiện MTTH theo những phương pháp riêng chưa được Bộ Y tế cho phép. Đó là chưa kể, theo quy định của Bộ Y tế, nhiều loại thuốc để điều trị người bị bệnh tâm thần chỉ được điều trị tại bệnh viện tâm thần mà không được sử dụng tại các trung tâm cai nghiện. Điều này đã dẫn đến việc điều trị chưa thống nhất và gặp nhiều lúng túng trong việc cai nghiện cho người sử dụng MTTH. Nhiều khi bác sĩ phải căn cứ vào sức khỏe, biểu hiện, triệu chứng bệnh của từng bệnh nhân để đưa ra phác đồ điều trị và phương hướng quản lý phù hợp.

Trước sự gia tăng của những người sử dụng MTTH như hiện nay, vấn đề được dư luận quan tâm là việc quản lý, điều trị cho những người nghiện MTTH một cách phù hợp. Bên cạnh việc sớm nghiên cứu và công bố phác đồ điều trị một cách chính thức đối với người nghiện MTTH cũng cần phải có biện pháp phối hợp quản lý giữa gia đình và địa phương, để phòng tránh tình trạng người nghiện MTTH có thể gây án.

BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI  GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY

1.Tổn thương hệ thống não bộ  và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

2.Rối loạn và xuống cấp nhận thức – hành vi – nhân cách.

3.Chấn thương tâm lý: đây không phải là một hành động nhất thời mà là một quá trình diễn biến đầy mâu thuẫn và phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện của người nghiện ma túy đối với bản thângia đình và xã hội.

4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện, trừ một số ít trường hợp nhẹ.

Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn nhận thức hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

 

ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRÊN Y VĂN THẾ GIỚI ĐÃ CHỈ RÕ:

1/ Không có mô hình cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện mà chỉ có những nguyên tắc căn bản về điều trị – giáo dục – quản lý đối với người nghiện. Mô hình điều trị tốt cho người này, chưa hẳn đã phù hợp với người khác, mà thậm chí kết quả còn ngược lại.

2/ Trừ một số ít trường hợp nghiện nhẹđiều trị nghiện ma túy phải sử dụng một biện pháp tổng hợp, linh hoạt và kịp thờinhằm mục đích gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải tỏa các chấn thương tâm lý và để người cai nghiện không còn thèm nhớ ma túy phải sử dụng các liệu pháp sau:

·    Tư vấn – Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp giáo dục – Liệu pháp xã hội – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Hoạt động trị liệu – Sinh hoạt cá nhân, nhóm, gia đình,…

·    Đối với nhóm người nghiện Á phiện – Morphine -Héroine (OMH) cần phải uống thuốcNALTREXONE để đối tượng không còn thèm nhớ ma túy. Tuy nhiên, nếu chỉ uống thuốc Naltexone đơn thuần mà không sử dụng các liệu pháp trênngười cai nghiện sẽ không được phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải quyết các chấn thương tâm lý nên dễ bỏ chương trình điều trị và dễ tái sử dụng ma túyKết quả điều trị do đó sẽ rất hạn chế.

3/ Không có một liệu pháp đơn thuần nào (uống thuốc, châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật thùy não,…) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy.

4/ Chương trình điều trị phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lý của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy giải quyết– nhưng phải phối hợp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực mình với lĩnh vực chuyên môn của người khác.

5/ Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

TÁC HẠI CỦA MA TÚY TỔNG HỢP DẠNG KÍCH THÍCH (MA TÚY ĐÁ – THUỐC LẮC – AMPHETAMIN …)

(Amphetamine – Type Stimulants) (ATS)

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

  I. DỊCH TỄ HỌC:

Sử dụng Amphetamin có thể xảy ra ở mọi tầng lớp xã hội nhưng nhiều nhất ở nhóm “nghề nghiệp áo trắng”: sinh viên học thi, lái xe tải đường dài, vận động viên thể thao trong thi đấu, các doanh nghiệp trước các công việc quan trọng…

Lúc đầu, sử dụng Apx để tăng sự tỉnh táo, tăng năng xuất công việc, chống mệt mỏi… rồi nhanh chóng trở thành lạm dụng và nghiện ATS.

·        Sử dụng ATS trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.

+       Quân đội Mỹ: Phi công được sử dụng để giúp họ tỉnh táo.

+      Quân đội Đức: Sử dụng thuốc ATS sản xuất trong nước với tên biệt dược là Pervitin. Hitle được bác sĩ riêng, Theodore Morell tiêm hàng ngày.

·       Ở Mỹ

+      Binh lính Mỹ được khuyến khích dùng Amphetamin cả trong chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên.

+      Hiện nay ATS vẫn được phép sử dụng trong quân đội Mỹ.

+      57% phi công Mỹ trở về sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 họ nói thường xuyên sử dụng ATS.

Năm 1991: 7% dân số dùng ATS ít nhất 1 lần/ năm và 1% nghiện. Nhóm tuổi từ 18 – 25 có tỷ lệ cao nhất (7% có sử dụng ít nhất 1 lần), nhóm 12 – 17 có tỷ lệ nghiện đáng báo động (3% đã sử dụng ít nhất 1 lần).

Năm 1992: 13,9% sinh viên đại học và cao đẳng sử dụng ít nhất 1 lần và năm 1994: tăng đến 15,7%.

·    Ở Nhật:

Năm 1948 có 50% người tuổi từ 18 – 25 sử dụng ATS ít nhất 1 lần (sau đệ nhị thế chiến). Hiện nay ATS vẫn là chất ma túy chủ yếu…

·    Các nơi khác:

Số nguời đã sử dụng ATS ở Thụy Sĩ là 8%, Đức 2,8%, Tiệp Khắc 1,6%, Brazil là 5%. Tại Úc 25% nam và 12% nữ tuổi từ 20- 24 đã thử dùng ATS.

·   Ở Việt Nam:

Xuất hiện từ cuối những năm 90 của Thế kỷ trước, hiện ATS đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố.

ATS được dùng phổ biến ở Việt NamMethamphetamineEctasy với các tên lóng như: đá, thuốc lắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba..

Do giá thành cao, ATS được dùng phổ biến trong nhóm người nghiện ma túy là những thanh niên con nhà khá giả ở những thành phố lớn.

*   Thống kê tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có 9 bệnh nhân sử dụng nhóm ATS nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần (93 người). Riêng 3 tháng đầu năm 2012 nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý đã là 15 người.

TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY
THANH ĐA
 (TỪ 2005 ĐẾN 22-/06/2014) thống kê cho thấy số học viên sử dụng nhóm ATS như sau:​

NĂM SỐ HỌC VIÊN SỬ DỤNG NHÓM AMP ty-le-su-dung-nhom-amp.PNG - 6.11 kb SỐ HỌC VIÊN PHẢI  ĐIỀU TRỊ HÓA DƯỢC (THEO ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH VIỆN TÂM THẦN) ty-le-deu-tri-hoa-duoc.PNG - 6.29 kb SỐ PHẢI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TẦM THẦN
2005 04 0,56% 00 00% 0
2006 05 0,90% 00 00% 0
2007 22 2,10% 00 00% 0
2008 43 2,93% 02 4,65% 0
2009 69 4,75% 07 10,14% 0
2010 140 9,70% 29 20,07% 3
2011 255 16,95% 55 21,57% 3
2012 361 22,46% 67 18,56% 5
2013 358 24,49% 121 33,80% 6
NĂM 2014 436 29,9%% 141 32,34% 5
NĂM 2015

 (01/01/2015 ĐẾN 30/09/2015)

395 37,87% 114 28,86% 5

Cho đến nay số học viên nghiện ma túy nhóm ATS đã được điều trị tại Trung tâm là hơn 1.952 trường hợp. Riêng năm 2013 và 2014, tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy nhóm ATS phải điều trị bằng hóa dược chiếm 33,80 %, gấp gần 2 lần số học viên được điều trị bằng hóa dược năm 2012. Kết quả trên cho thấy:

– VẤN ĐỀ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS CẦN BÁO ĐỘNG: TÁC HẠI CỦA NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS LÀ KHÔNG LƯỜNG ĐƯỢC, nhất là khi người nghiện ma túy thuộc nhóm tài xế lái xe tải nặng đường dài, số người nghiện có tiền án tiền sự, số người từ các trung tâm cai nghiện trở về tái nghiện, …

–  Số người sử dụng ma túy ATS tăng nhanh đều mỗi năm. Hiện nay tại Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa số học viên sử dụng ATS chiếm hơn 1/3 so với tổng số học viên cai nghiện ma túy.

–  Số học viên có vấn đề tâm thần buộc điều trị hóa dược gần 1/3 trên tổng số học viên sử dụng ma túy nhóm ATS. Số học viên nghiện ATS còn lại hầu hết đều có vấn đề tâm thần.

II.   CƠ CHẾ TÁC DỤNG:

Tất cả các loại ATS đều hấp thu nhanh qua đường uống và tác động lên hệ thần kinh trung ương xảy ra nhanh trong vòng 1 giờ sau khi uống. Các Amphetamin cổ điển cũng được sử dụng đường tiêm tĩnh mạch do nó có hiệu quả ngay lập tức. Ngoài ra Amphetamin mới cũng như loại không được kê đơn cũng được sử dụng hít qua đường mũi. Sự dung nạp cũng được xảy ra với 2 loại Amphetamin nói trên, mặc dù người sử dụng Amphetamin thường vượt qua sự dung nạp bằng cách sử dụng nhiều loại ma túy hơn. Amphetamin gây nghiện yếu hơn cocaine.

Các loại Amphetamin cổ điển (dextroamphetamine, methamphetamine (hàng đá) và methylphenidate) có hiệu quả ban đầu của nó bằng cách gây tăng phóng thích cathecoliamine, đặc biệt dopamine ở tận cùng tiền synapse. Các hiệu quả đặc biệt mạnh với các nơ ron dopaminergic ở vùng nhân tegment, nhân bụng của vỏ não và vùng hồi viền. Đường này đã được xác định là đường củng cố tích cực và sự kích hoạt nó hiển nhiên là cơ chế gây nghiện mạnh đối với các Amphetamine.

– Các loại amphetamine mới ( MDMA, MDEA. MNDA, và DOM) gây ra sự phóng thích Cathecholamine (dopamine và norepinephrine) và serotoninSerotonin là chất vận chuyển thần kinh được chứng tỏ như là đường hóa học thần kinh chủ yếu liên quan đến tác động gây ảo giác. Tuy nhiên hiệu quả lâm sàng của các Amphetamine mới cũng gây dung nạp chéo với các Amphetamine cổ điển và gây ảo giác. Dược lý của MDMA (thuốc lắc) được biết rất rõ trong nhóm này, nó có ái lực với các nơ ron serotoninergic qua việc chịu trách nhiệm vận chuyển serotonin, qua việc thu hồi serotonin. Khi vào tế bào thần kinh, MDMA gây ra một sự phóng thích nhanh serotonin và ức chế sản xuất ra các enzyme phân hủy serotonin.

–  MDMA còn có tên gọi khác là Ectasy, thuốc lắc, XTC, E, Eva & Adam …

III.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

ATS gây ra các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Khô miệng, khô môi

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Mất trí nhớ

+ Giảm khả năng xét đoán, tập trung

+ Giảm khả năng lao động xã hội.

+ Buồn nôn, nôn

+ Mất ngủ

+ Sút cân

+ Giảm ăn, biếng ăn

+ Hỏng răng, nuốt khó

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Trầm cảm, lo lắng

+ Căng thẳng, giận dữ, bồn chồn.

+ Hoang tưởng, ảo thanh, phản ứng hoảng sợ

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

+ Đột quỵ, nhũn não, đau đầu

+  Có ý tưởng tự sát.

Tóm lại, triệu chứng lâm sàng thể hiện qua hai mặt cơ thể và tâm thần như sau:

1.  VỀ CƠ THỂ:

+      Tác động chủ yếu trên hệ thần kinh – hệ tim mạch – hệ tiêu hóa.

+       Các biểu hiện lâm sàng đáng chú ý bao gồm: nhồi máu cơ timtăng huyết áp kịch phátbệnh lý mạch máu não và viêm đại tràng thiếu máu. Những người lạm dụng ATS thường có hành vi tình dục không an toàn.

+       Các tác dụng không mong muốn và ít nguy hiểm là: nóng bừng mặt, xanh xao, tím tái thiếu ô xy, sốt, đau đầu, nhịp tim nhanh, buồn nôn, nôn, mất men răng, thở hụt hơi, run, loạng choạng.

+       Ở phụ nữ có thai thường thai nhi chậm lớn, nhẹ cânvòng đầu nhỏsinh non.

2.  VỀ TÂM THẦN:

Người sử dụng ATS có các biểu hiện sau: bồn chồn, loạn khí sắc, mất ngủ, cáu kỉnh, hoảng sợ, lú lẫn, trở nên thù địch, và các triệu chứng của rối loạn lo âu. Ý tưởng liên hệhoang tưởng paranoid và các ảo giác cũng có thể xảy ra.

·    Đối với người sử dụng các loại Amphetamin mới, còn có các triệu chứng sau:

–       Triệu chứng ngắn hạnNhịp tim nhanh, run, khô miệng, dị cảm, co cơ, đổ mồ hôi, lơ mơ, mệt mỏi, mất ngủ, choáng váng, ảo thị, nhìn không rõ, hay giật mình, khó tập trung, có cơn nóng lạnh, đánh trống ngực, nhạy cảm với lạnh, dễ cáu kỉnh, mất men răng, nhìn thấy đồ vật lấp lánh, cảm giác thân thiện, gần gũi, quan hệ với người khác.

–       Triệu chứng kéo dài: ngủ lơ mơ, uể oải, đau cơ, mệt mỏi, trầm cảm, căng cơ hàm (nghiến răng), đau đầu, khô miệng, lo âu, buồn rầu, sợ hãi, dễ cáu kỉnh, khó tập trung chú ý, cảm giác thân thiện với người khác.

Ngoài ra hầu hết các chất ATS làm tăng nhu cầu tình dục nên người sử dụng ATS quan hệ nam nữ bừa bãi, hay chích chung kim do đó rất dễ lây nhiễm các bệnh HIV, viêm gan siêu vi, đồng thời do bị kích động người sử dụng ATS hay phóng xe, lạng lách gây tai nạn giao thông cho chính mình và người khác.

IV. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC AMPHETAMIN.

A. Thường xuyên dùng APT hoặc giống APT.

B. Có các thay đổi về tâm lý và hành vi không thích hợprõ rệt trên lâm sàng:

Khoái cảm, cùn mòn cảm xúc.

Mất ngủ, lo âu, căng thẳng, giận dữ

Các hành vi có tính định hình

Giảm khả năng xét đoán, khả năng lao động xã hội.

Các triệu chứng này xuất hiện trong khi sử dụng hay một thời gian ngắn sau khi sử dụng APT.

C. Có 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Buồn nôn, nôn

+ Sút cân

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

D. Các triệu chứng này không do một bệnh cơ thể nào khác gây ra và không ghép được vào một rối loạn tâm thần nào khác.

V. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI LOẠN THẦN DO AMPHETAMIN:

(Amphetamine Inducd Psychosis)

+ Biểu hiện cốt lõi là h/c paranoid với các đặc trưng:

– Nhiều ảo thị (sinh động, nhiều màu sắc, cấp diễn và ảo thanh.

– Các ảo giác chiếm ưu thế trong bệnh cảnh.

– Các hoang tưởng thường gặp là: hoang tưởng liên hệ, bị truy hại, đôi khi có cả hoang tưởng bị kiểm tra, tư duy bị cài đặt, bị bộc lộ.

+ Tăng hoạt độnghoặc rối loạn hành vi theo ảo giác chi phối

+ Tăng tình dục(hypersexuality)

+ Bối rối lẫn lộn, đôi khi tư duy rời rạc không liên quan.

· Triệu chứng thường xuất hiện cấp diễn ở những người nghiện APT lâu ngày hoặc kèm nhiễm độc rượu, stress.

· Phân biệt với tâm thần phân liệt: triệu chứng giảm dần vài ngày khi được điều trị hoặc xét nghiệm nước tiểu đã tìm thấy chất ma túy.

VI. HỘI CHỨNG CAI AMPHETAMIN:

· Biểu hiện hội chứng cai có thể xuất hiện từ vài giờ đến vài ngày sau khi ngưng sử dụng APT.

· Các triệu chứng đạt cường độ tối đa trong vòng 2 – 4 ngày sauhết sau khoảng một tuần.

· Triệu chứng nặng nề nhất là trầm cảm. Ở người nghiện dài ngày, sử dụng ma túy liều cao thì trầm cảm thường rất nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát.

VII. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG CAI (DSM – IV):

A- Hội chứng xảy ra do ngừng hay giảm sử dụng APT (hoặc giống APT) ở người nghiện (đã dùng liều cao và kéo dài…) APT.

B- Có rối loạn khí sắc và có 2 hoặc nhiều hơn các rối loạn sau đây (xuất hiện sau khi ngừng sử dụng APT một vài giờ hay một vài ngày).

Mệt mỏi

– Có những giấc mơ đáng sợ.

Mất ngủhay ngủ nhiều.

Tăngcảm giác ngon miệng.

Kích thíchhoặc ức chế tâm thần vận động.

C – Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã hội, lao động.

D – Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn thần khác gây ra.

Nguồn : cainghienmatuythanhda

Giai đoạn nội trú tập trung

MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

A- RỐI LOẠN TÂM – SINH LÝ TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

Ma túy là những chất tác động tâm thần và gây những tổn thương trong nãongười nghiện. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khingưng sử dụng ma túy.

Người nghiện ma túy bị suy giảm khả năng xét đoán, khả năng xử lý thông tin, mất khả năng tự chủ, khả năng hiểu biết để hướng đến một cuộc sống lành mạnh. Người nghiện hình thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Liệu pháp điều trị – phục hồi là một vấn đề hết sức khó khăn vì người bệnh bị những rối nhiễu tâm sinh lý thực tổn – lú lẫn tâm trí – phản ứng loạn tâm thần – rối loạn sinh hoạt – trạng thái hưng trầm nhược – rối loạn hành vi – rối loạn tập trung – biểu hiện lo hãi – thiếu tự tin, kết hợp với các rối loạn nhân cách – rối loạn tâm thần và đặc biệt là hội chứng hồi tưởng dẫn đến thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó … Đa số người nghiện ma túy đều được xếp vào những người có vấn đề tâm thần.

Sự rối loạn trên nguyên nhân từ nhiều lý do khác nhau : Tâm – sinh lý người nghiện, hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đình và tác động của xã hội. Việc sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma tuý dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng của một quá trình dài đầy rối loạn trong một bối cảnh đa phương diệndo đó, việc điều trị phục hồi người nghiện ma tuý phải là một phương pháp điều trị toàn diện bao gồm nhiều  lãnh vực Y tế – Tâm lý – Xã hội… Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma tuý vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

Vì những lý do trên, nên trừ một số trường hợp bệnh nhẹ, hầu hết những người nghiện ma túy đều phải được điều trị tập trung một thời gian để được giáo dục, giúp đỡ, rèn luyện, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách; trang bị bản lĩnhkỹ năng sống trước khi trở về tiếp tục điều trị tại cộng đồng.

Để có được một môi trường điều trị tập trung dài hạnhiệu quả, qua thực tiễnlý luận người ta nhận thấy rằng MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ THEO PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP XÃ HỘI VÀ TỰ GIÚP ĐỠ (SSLTM) trong một MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆUvà CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU khá thành công – có hiệu quả nhất.

Nếu được điều trị và phục hồi đúng cách, người nghiện sau khi cai nghiện sẽ bước vào cuộc sống với những thói quen tốt, những nhận thức đúng đắn – biết tự trọng và tự tin hơn để với sự giúp đỡ của cộng đồng sẽ có thể từng bước, bước đi chính trên đôi chân của mình.

B. ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẬP TRUNG DÀI HẠN:

MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

I- ĐỊNH NGHĨA:

  1- MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU:  

Môi trường trị liệusử dụng một cách khoa học môi trường nhằm mục đích trị liệu, tạo nên những thay đổi trong nhân cách của bệnh nhân. Danh từ môi trường trị liệu lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà tâm thần học BETTLEHEIM và SYLVERTER vào cuối những năm 1930 đầu những năm 1940 để miêu tả một môi trường kế hoạch khoa họcnhằm mục đích thay đổi nhân cách của bệnh nhân.

Khi một bênh nhân bị căng thẳng, bức xúc, mất ngủ – người thầy thuốc khuyên bệnh nhân hãy nghỉ ngơi ở những nơi yên tĩnh. Bạn có thể lên cao nguyên hoặc vềvùng biển một thời gian. Nơi yên tĩnh, cao nguyên, biển chính là thuốc để điều trị các chứng căng thẳng, bức xúc, mất ngủ của bạn. Sử dụng môi trường để điều trị bệnh được gọi là môi trường trị liệu.

Những khái niệm về môi trường trị liệu: Những cuộc nghiên cứu đã thực hiện đầu tiên về môi trường trị liệu hầu hết sử dụng những lý thuyết về tâm thần hay vềtâm lý bệnh nhân để xác định loại môi trường nào là có tính cách trị liệu tốt nhất. Những nổ lực được thực hiện để tìm kiếm một môi trường tương tác giữa các cá nhân, được chi tiết hoá kỷ lưỡng, đặt nền tảng trên những nhu cầu tâm năng của một bệnh nhân đã được chẩn đoán kỹ càng.

+ Năm 1944 STANTON và SCHWARTZ cho rằng môi trường có thể là cách điều trị chủ yếu, cũng như có vai trò ảnh hưởng nâng đỡ hay bổ túc cho các hình thức điều trị khác.

+ Một tác giả khác là CUWDELL đã miêu tả tác động của các giá trị văn hoá, nhữngchuẩn mựcphong tục của môi trường có thể ảnh hưởng lên sự điều trị của bệnh nhân.

+ Năm 1958 các tác giả FREEMAN, CAMERON đã cho rằng có mối liên hệ giữa tâm lý cá nhân và những đặc điểm của môi trường .

+ Năm 1962 CUMMING cho rằng môi trường có thể mang lại những thay đổi đặc thù trong hành vi của bệnh nhân. Các môi trường trị liệu có thể khác nhau tùy theo cách tổ chức, nhưng căn bản đều có những điểm chung trong các phương pháp trị liệuđối với các bệnh nhân điều trị nội trú.

Môi trường trị liệu nhận định rằng:

a/ Bệnh nhân có những sức mạnhmột phần nhân cách không bị xung đột. Những sức mạnh này được phát huy tối ưu bằng cách thiết lập một môi trường nội trú khoa học.

b/ Bệnh nhâncó những khả năng to lớn trong việc tự điều chỉnh chính mình, trên những bệnh nhân khác và mức độ nào đó có ảnh hưởng trên cơ cấu tổ chức của bệnh viện.

c/  Tất cả các nhân viên của trung tâm có một khả năng rất lớn để tác động đến việc trị liệu cho người bệnh.

  2-  CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

Theo CRACK, khác với môi trường trị liệu, cộng đồng trị liệu là một loại môi trường đặc biệt trong đó toàn cơ cấu xã hội của đơn vị điều trị đều tham gia tiến trình giúp đỡ bệnh nhân.

Theo JONES, môi trường cộng đồng trị liệu được phân biệt với các chương trình trị liệu khác là do chương trình này huy động toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân – thân nhân bệnh nhân và toàn bộ tập thể bệnh nhân và nhân viên đều tập trung vào mục đích điều trị. Như vậy,bệnh nhân cũng có một vị trí trong  chương trình điều trị này. Trong chương trình cộng đồng trị liệu, nhân viên  phải khuyến khíchbệnh nhân tích cực tham gia trong kế hoạch săn sóc cho chính mình. Đây là mộtphương pháp rất khác với vai trò thụ động chữa trị trong bệnh viện cổ điển, quy ước trong đó chỉ có vai trò bác sĩbệnh nhân. JONES cho rằng điểm đặc biệt của chương trình này là được đặt trên sự giao lưu, giao tiếp tự do giữa bệnh nhân vớinhân viêngiữa các bệnh nhân với nhau. Mục đích của sự giao lưu tự do này là tìm ra được hành vi nào, ý kiến nào, nhận xét nào, những vai trò nào  thích hợp để thay đổinhận thức, thái độ,  lòng tin của bệnh nhân và những vấn đề nào không thích hợpcho điều trị (anti therapeutic).

Như vậy, cộng đồng trị liệu có tính chất dân chủ, tự do bàn bạc, thảo luận khácvới phương pháp thường dùng là đặt vai trò trị liệu của người bác sĩ lên trên bệnh nhân và cách điều trị phục hồi tuân thủ những quy định theo thứ lớp bắt buộc.

Trong mô hình cộng đồng trị liệu, môi trường thiết yếu là môi trường linh hoạt,những người tham gia không có vai trò chuyên biệt rõ ràng, những hoạt động của bệnh nhân được cá thể hóa rất cao. Một điều ngoại lệ đặc biệt là MỖI NGÀY PHẢI CÓ MỘT BUỔI HỌP CỘNG ĐỒNG: tất cả nhân viên và những bệnh nhân được khuyến khíchphải hội họp, trách nhiệm tập thể được nhấn mạnh, những người tham dự được rút tỉa kinh nghiệm, học tập, sửasainhững hành vi không tốt.

Vai trò chính của nhân viên là giúp đỡ bệnh nhân đạt được những thấu hiểu mới, những sáng kiến, hành vi mới. JONES tin rằng một đơn vị điều trị lý tưởng cần phải được tự do điều hành trong cách nào tốt nhất, với hướng tiếp cận riêng của mình.Tuy nhiên, JONES cũng đưa ra những yếu tố mang tính đặc trưng của cộng đồng trị liệu: đó là hội họp cộng đồng hàng ngày như là một phương thức để thảo luận đời sống hàng ngày của Trung Tâm nhằm đóng góp, giải quyết các thắc mắc, các yêu cầu của các bệnh nhân.

Một yếu tố nữa của cộng đồng trị liệu là quản lý bệnh nhân. Mục đích của sự quản lý bệnh nhân là để bàn bạc, thảo luận một cách chi tiết, cụ thể vềtrách nhiệm quyền lợi của từng bệnh nhân như: luân phiên dọn dẹplàm vệ sinh các phòng. Tất cả mọi quyết định cuối cùng phải được thống nhất lại trong các phiên họp cộng đồng. Jones cho rằng sinh hoạt nhóm nhằm xem xét, kiểm điểm lại hoạt động trong ngàyrất cần thiết nhằm uốn nắn, giáo dục bệnh nhân. Trong buổi họp, các thành viên Trung Tâm phải bàn bạc những đáp ứng riêng,  mong đợi riêng, thành kiến riêngcủa mọi người. Một đặc trưng quan trọng khác của môi trường cộng đồng trị liệu là bệnh nhân có những cơ hội học cách sống sinh hoạt trong môi trường tập thể đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày. Theo JONES – phản hồi lại, là một trong những khái niệm căn bản, quan trọng nhất của cộng đồng trị liệu nhằm đạt được sự tiến bộcủacộng đồng. Nhân viên của Trung tâm phải nhạy cảm trong vai trò của mình- phải biết phản hồi lại những thông tin trong cộng đồng lên cấp trên. Ngày nay những khái niệm sơ khởi của JONES về cộng đồng trị liệu đã được nhìn nhận tuy nhiên được thực hiện dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau nhưng những nét cơ bản vẫn không thay đổi.

        Nguyên tắc của cộng đồngtrị liệu là có sự liên quan lẫn nhau trong môi trường nội trú, tác động đến hành vicảm xúc của mọi người. Năng động nhómđộng lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệmphục hồi – khuyến khích sự phát triển. Sự điều hành toàn diện môi trường cộng đồng rất có hiệu quả.

       Sức mạnh của năng động nhóm (dynamic group) ảnh hưởng đến việc điều chỉnh hành vi và củng cố các quy tắc của cộng đồng. Ngày nay, trong môi trường điều trị cộng đồng, sức mạnh ấy không còn nằm ở cá nhân hay một nhóm nhỏ nữa mà nó là sức mạnh của một tập thể.

  3. MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ THEO PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP XÃ HỘI VÀ TỰ GIÚP ĐỠ (SELF – HELP SOCIAL LEARNING TREATMENT MODEL – SSLTM):

Từ những khái niệm của cộng đồng trị liệu mô hình SSLTM đã được phát triển:

     3.1 HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU ẨN DANH (AA) – NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ẨN DANH (NA):

Năm 1935 – Nhóm những người nghiện rượu ẩn danh ( AL) được thành lập. Quan điểmcủa nhóm là cá nhân tự nhìn nhận bản thân, thừa nhận những khiếm khuyết của mìnhvàsửa đổi.

• Hội AA (Alcoholics Annymous) HIỆP HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU ẨN DANH – ra đời năm 1935, tại Akron- Ohio- Mỹ, do ông Bill Wilson và bác sĩ Bob Smith – vốn là hai người nghiện rượu, đã tự cai. Hai ông đã đưa ra 12 nguyên tắc điều trị, đồng thời lập ra hội AA. Hội khởi đầu có 3 thành viên.

• Năm 1953, hội AA cho phép hội NA (Narcotics Anonymous) HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ẨN DANH được phép sử dụng các bước của chương trình này vào việc cai nghiện ma túy.

Nghiện rượunghiện ma túynét chungcùng mục đích hồi phục và từ bỏ nghiện, đồng thời hình thành mối quan hệ đồng cảmgiữa những người đang cùng cai nghiện.

• Hơn 70 năm qua, chương trình 12 bước đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới,dựa trên căn bảntính truyền thống, và được bổ sung bởi nhiều bài viết chọn lọc của những người cai nghiện. Trụ sở trung ương Hội đặt tại New York và Châu Âu.

Phương pháp chính của Hộichương trình 12 bướcmột bộ sách giáo khoa kèm theo (Basic Text).  Phương pháp nhấn mạnh đặc biệt vai trò của quy trình thảo luận – thu hoạch – giải đáp.

Giáo viên hướng dẫnnhóm trợ lý đều là người cai nghiện thành công, xuất thân từ Trường Cai Nghiện trở thành chuyên viên – một người thầy thực sự của chuyên ngành ma túy.

Việc học tập được tổ chức tại Trung Tâm Cai nghiện Ma Túy, chương trình bao gồm giai đoạn cắt cơn, giai đoạn học tậprèn luyện theo chương trình 12 bước, kế tiếp là giai đoạn “bán thử tháchgiai đoạn thử thách” tại cộng đồng. Thời gian tổng quát là 6 tháng, có thể kéo dài một năm hay hơn nữa, tùy theo từng trường hợp.

Sau khi tái hòa nhập cộng đồng, mỗi người đều là hội viên của NA và giữ sinh hoạt với Hội, thân thiết, lâu dài để đem lại sự bền vững cho mình.

Tại Trung Tâm, học viên cũng được hưởng các dịch vụ sinh hoạt như: thể dục thể thao – vui chơi giải trí – nâng cao văn hóa, kỹ năng sống – các loại lao động trị liệu, hướng nghiệp.

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP 12 BƯỚC:

         Chương trình 12 bước có nguồn gốc như đã trình bày trên, chương trình được xây dựng trên nền tảng Tâm lý nhiều mặt, bao gồm nhiều ngã rẽ của tâm lý người nghiện, như sự phản ứng, thối động, che dấu, biện hộ, chối bỏ, không thừa nhận, buông xuôi, mất tự tin, hưng phấn giả tạo… qua từng giai đoạn, do tính chất căn bệnh gây nên, cộng với quán tính của hành vi tiêu cực lâu dài trong quá khứ. Chương trình do chính những người nghiện đã phục hồi xây dựng nên và được tiếp tục bổ sung. Chương trình 12 bước bao gồm:

Bước 1: “Chúng ta chấp nhận rằng mình bất lực về sự nghiện ngập của chúng ta và cuộc sống của chúng ta trở nên không kiểm soát được”

Bước 2: “Chúng ta tin rằng có một quyền năng mạnh hơn bản thân mình có thể giúp chúng ta phục hồi lại sự bình thường”

Bước 3: “Chúng ta quyết định để ‎ý chí và cuộc sống của chúng ta cho sự chăm sóc của Thiên Chúa vì chúng ta hiểu Người”

Bước 4: “Chúng ta đã đánh giá đạo đức của chúng ta một cách chân thật và can đảm”

Bước 5: “Chúng ta đã thú nhận với Đấng tối cao, với chính chúng ta, và với người khác về thực chất những hành động sai lầm của chúng ta”

Bước 6: “Chúng ta hoàn toàn để cho Đấng tối cao xóa bỏ đi tất cả những khuyết điểm của tính cách”

Bước 7: “Chúng ta khiêm tốn yêu cầu Đấng tối cao xóa bỏ những điều thiếu sót của chúng ta”

Bước 8: “Chúng ta viết ra danh sách những người mà chúng ta đã làm hại và chúng ta sẵn sàng sửa chữa tất cả”

Bước 9: “Chúng ta trực tiếp đền bù cho họ bất cứ nơi nào chúng ta có thể, ngoại trừ trường hợp nếu chúng ta làm điều đó sẽ tổn thương họ hoặc những người khác”

Bước 10: “Chúng ta tiếp tục làm bảng kiểm tra cá nhân, để khi nào chúng ta sai, chúng ta thừa nhận và sửa chữa ngay những sai lầm ấy”

Bước 11: “Chúng ta đã tìm kiếm thông qua cầu nguyện và thiền định để nâng cao nhận thức của chúng ta, tiếp cận với Chúa vì khi chúng ta hiểu được Người. Cầu nguyện chỉ là biểu hiện sự sẵn lòng của Người cho chúng ta và sức mạnh để làm điều đó”

Bước 12: “Sau khi đạt được sự nhận thức về tâm linh, kết quả của các bước mà ta đã cố gắng thực hiện. Chúng ta cố gắng mang thông điệp này đến cho những người nghiện ma túy khác và để thực hành các nguyên tắc này trong mọi công việc của chúng ta”

     3.2 MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG OXFORD: do Frank Buchman thành lập và là người có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng các giá trị nhân văn. Mục đích chủ yếu của nhóm Oxford là cai nghiện Rượu – Hoạt động của nhóm bao gồm những nội dung như cùng chia sẻ thông tin, hướng dẫn, cam kết sự thay đổiphục hồi. Chúng ta thấy được nhiều điểm tương đồng giữa nhóm Oxford với Cộng đồng trị liệu. Nhóm Oxford có những nổ lực trong việc truyền đạt các giá trị nhân văn tới các thành viên của nhóm. Trong số các giá trị này có 4 yếu tố cơ bản – đó là:

a/ Tính trung thực tuyệt đối

b/ Tính trong sạch tuyệt đối

c/ Không ích kỷ

d/ Yêu thương tuyệt đối

     3.3. MÔ HÌNH SYNANON:

Được thành lập vào năm 1958 tại California bởi một người đã từng nghiện rượu là Charles E. Dederich, sự phát triển của Synanon ban đầu được xuất phát từ quan điểm của AA. Do chương trình thích ứng với các trường hợp cai nghiện ma túy, chương trình Synanon AA dần trở nên tách biệtdẫn đến sự khác nhau hệ tư tưởng cũng như mối liên quan.

Mô hình Cộng đồng trị liệu của Synanon đang phát triển thành nhiều chương trình ở Mỹ và khắp thế giới gồm chín yếu tố cơ bản. Các yếu tố này dựa vào lý thuyết học tập xã hội,thông qua sử dụng cộng đồng để khuyến khích sự thay đổi về hành vi và thái độ. Chín yếu tố đó là:

«Tham gia tích cực:Người nghiện tham gia chủ động trong các hoạt động trong cộng đồng chữa bệnhcần thiết để thay đổi, trưởng thànhphát triển. Điều này có nghĩa là khi người nghiện tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, sẽ tăng cường mối liên kết giữa các thành viêngiữa thành viên với chương trình. Các thành viên được yêu cầu đóng góp cho cộng đồng. Sự đóng góp này được thực hiện dựa trên khả năng của từng cá nhân cũng như giá trị của mỗi nhiệm vụ mà họ thực hiện đối với cộng đồng.

«Phản hồi của thành viên: Những thành viên nhóm phải đóng góp ý kiến lẫn nhau một cách chân thật. Thông tin phản hồi của các thành viên được thực hiện một cách chính thức thông qua hoạt động của nhóm và các buổi trị liệu, hoặcphản hồi không chính thức như giao tiếp cá nhân. Mục đích của việc phản hồi là nhận thức về hành vi, suy nghĩ ý tưởng. Phản hồi bao gồm cả sự phản hồi tích cựcphê bình có tính xây dựng.

«Noi gương: Tất cả các cán bộ và thành viên cấp cao của cộng đồng phải thể hiện tốt để làm gương cho những thành viên khác như một phương tiện giáo dục. Đây là việc giáo dục thông qua hành động. Các thành viên của cộng đồng điều trị “không chỉ nói mà phải làm”.

«Tập thể hướng dẫn cá nhân thay đổi: nhấn mạnh của nhóm hoặc tác động củacộng đồng giúp cá nhân thay đổi. Tất cả các yếu tố trong mô hình SSLTMkhuyến khíchhỗ trợ cho cá nhân trưởng thành và phát triển.

«Các giá trị và chuẩn mực chung:cộng đồng xây dựng các quy tắc và giá trị chung để tạo ra áp lực của nhóm và của cộng đồng, để giúp đỡ từng thành viên của cộng đồng tuân thủ và dần tin vào những hành vi quan niệm tích cực. “Triết lý TC”“Những quy tắc bất thành văn” là những nội dung để thực hiện các giá trị và chuẩn mực.

«Kết cấu và hệ thống:để thực hiện các khái niệm và triết lý của SSLTM, các hoạt động cần được tổ chức có kết cấuhệ thống. Kế hoạch hoạt động hàng ngày, gặp mặt, nội quy, quy định, cấu trúc thứ bậc, công việc, mệnh lệnh nhóm, các giai đoạn điều trị là tất cả những nội dung để đạt được mục đíchmục tiêucủa cộng đồng.

«Giao tiếp mở:hoạt động giao tiếp được tiến hành theo chiều ngang và chiều dọc. Cộng đồng duy trì sự thống nhất thông qua việc khuyến khích các thành viên bộc lộ cảm xúc ý tưởng.

«Mối quan hệ cá nhân và nhóm: SSLTM tạo ra một mạng lưới quan hệ, tạo điều kiện cho các học viên có nhiều cơ hội để hiểu rõ hơn về hành vi, cảm xúcý tưởng. Mối quan hệ với nhân viên, nhóm người được chữa trị, nhóm tĩnh, cộng đồng sẽ giúp các cá nhân đảm nhận trách nhiệm, tăng cường hiểu biếtchấp nhận những thiếu sót của mình và làm cam kết thay đổi.

«Thuật ngữ chuyên dùng: thuật ngữ sử dụng bởi SSLTM là cách giải thích đơn giản về quá trìnhmôi trường hoạt động. Đó là ngôn ngữ chung tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng.

     3.4. TỔ CHỨC DAYTOP QUỐC TẾ:

Được bắt đầu đưa vào điều trị từ năm 1963 và hiện có mặt trên 60 quốc gia trên thế giới.

Tổ chức Daytop đã hỗ trợ rất nhiều người nghiện và thanh thiếu niên từ bỏ lệ thuộc vào ma túy và xây dựng một cuộc sống lành mạnh và có ích cho xã hội.Tình trạng sử dụng ma túy và nghiện ma túy diễn ra ở hầu khắp các nước trên thế giới và có tác động lớn đến các thành viên, gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội.

Tổ chức DAYTOP Quốc tếđược thành lập để cung cấp chương trình tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật giúp đỡ các quốc gia đối phó với sự gia tăng của tình trạng sử dụng ma túy.

¬Chương trình tập huấn Daytop dựa trên cơ sở mô hình trị liệu cộng đồng truyền thống lâu dài, mô hình này được tạo thành từ 9 yếu tố cơ bản:

1)    Sự tham gia tích cực của các thành viên/ người cai nghiện trong cộng đồng,

2)    Thu nhận ý kiến từng thành viên cộng đồng,

3)    Xây dựng mô hình trách nhiệm,

4)    Các mô hình hướng dẫn từng thành viên cộng đồng thay đổi,

5)    Chia sẻ các chuẩn mực và giá trị chung,

6)    Cơ cấu và hệ thống,

7)    Giao tiếp mở,

8)    Quan hệ cá nhân và quan hệ nhóm, và

9)    Thuật ngữ chuyên dùng (được áp dụng trong cộng đồng TC).

Tất cả những yếu tố này tạo nên moojt phương pháp cộng đồng TC, dựa trên phương pháp tự giúp đỡhọc tập xã hội. Chính cộng đồng thúc đẩy những thay đổi về thái độ, hành vi của thành viên. Thái độ, kỹ năng và trách nhiệm mà người vào cai nghiện học tập từ cộng đồng không chỉ cần thiết để giúp họ sống tốt trong môi trường cộng đồng đó mà còn là yếu tố quan trọng để họ có thể tồn tại khi trở về xã hội.

¬Mô hình tập huấn này được hình thành trên hoạt động thực tế của các Cộng đồng trị liệu Hoa Kỳ (TCA). Những cộng đồng này đã đào tạo cán bộ tư vấn có năng lực phù hợp để triển khai hiệu quả mô hình này. Năng lực của cán bộ tư vấn bao gồm:

1)    Phát triển các kỹ năng sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu và các công cụ đánh giá,

2)     Tăng cường động lực phát triển và thúc đẩy xây dựng hệ thống các quy định ưu đãi,

3)    Khuyến khích ý thức tự giúp đỡ và trợ giúp lẫn nhau,

4)    Phát triển khái niệm “không có sự tách biệt giữa chúng ta – họ”,

5)    Thực hành khái niệm “hành động theo chỉ dẫn”,

6)    Thúc đẩy sự phụ thuộc vào giai đoạn đầu của điều trị và tăng cường độc lập cá nhân vào giai đoạn tiếp theo,

7)    Tổ chức hoạt động nhóm,

8)    Quản lý hồ sơ,

9)    Thúc đẩy việc học tập xã hội thông qua làm gương, tác động đồng đẳng, và học tập thông qua trải nghiệm,

10)   Tiến hành xây dựng lòng tin trong cộng đồng,

11)   Thực hành theo các tấm gương tích cực,

12)   Chương trình tập huấn này đã mở rộng thêm một nội dung nữa – nội dung thứ 12 – phát triển các hành vi khắc phục khó khăn để thay đổi.

 

Để hiểu rõ tổ chứccác phương pháp điều trị của tổ chức này đề nghị các bạntham khảo tại mục Nghiên cứu Khoa học, bài thứ 3: “Cộng đồng trị liệu – một liệu pháp cai nghiện ma túy có hiệu quả cần được mở rộng ở Việt Nam” tại trang web của Trung tâm Thanh Đa do ông Trần Việt Trung – nguyên Phó Cục Trưởng Cục Phòng, Chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội biên soạn.

 3.5. CHƯƠNG TRÌNH MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU VÀ CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA:

Thông qua khảo sát các chương trình (SSLTM) chúng tôi nhận thấy chương trình SSLTM của tổ chức Daytop:

«Phù hợp với điều kiện Việt Nam nói chung và Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa nói riêng.

«Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đã thực hiện chương trình này hơn 12 năm và có kết quả rõ rệt.

«Nhiều cán bộ nhân viên Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa đã tham gia chương trình tập huấn tập trung dài hạn 04 tháng do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội kết hợp với tổ chức Daytop Quốc tế thực hiện. Khóa học có nội dung đồng bộ, phong phú và được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (người tài trợ chương trình này) đánh giá cao qua kết quả nghiệm thu được khảo sát và công bố năm 2009.

Do điều kiện đặc thùcủa học viênTrung tâm Thanh Đa – chương trình điều trị theo phương pháp Daytop Quốc tế đã được Trung tâm điều chỉnh một số mặt để phù hợp với thực tiễn và hoàn cảnh thực tế của Trung tâm.

II- KẾT LUẬN:

        Môi trường cộng đồng trị liệu không giốngnhư môi trường cộng đồng mà chúng ta đang sống. Có một số những đặc tính khiến cho cộng đồng này trở nên độc đáokhông giống bất kỳ loại cộng đồng nào: đó chính là sự tổng hợp của các yếu tố: cơ cấu tổ chức, yếu tố con người, những quy định điều chỉnh mối quan hệ tương giao giữa các thành viên của cộng đồng và hệ thống chia sẻ thông tin đã tạo nên cộng đồng. Nó phải là: “Môi trường học tập”. Môi trường này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa các thành viên và không khí học tập. Kết quả môi trường cộng đồng trị liệu là tạo ra một số những ảnh hưởng nhất định đến trạng thái tâm tư tình cảm, nhận thức về đạo đứcxã hội của người nghiện. Môi trường cộng đồng trị liệu tạo ra trật tự và một lối sống có mục đích trong các thành viên của nó. Chính bởi vì môi trường trị liệu cộng đồng thường có được cơ sở vật chất  cũng như cách tổ chức tốt nên nó là môi trường trị liệu tốt đối với các đối tượng tham gia chương trình. Tóm lại:

Môi trường cộng đồng trị liệu nhằm mục đích:

–   Bạn có thể thay đổibộc lộ bản thân mình.

–   Động lực của nhóm sẽ giúp đỡ cho sự thay đổi đó.

–   Tất cả các thành viêncủa cộng đồng cần phải có trách nhiệm.

–   Tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác để đánh giá cảm xúc.

–   Phương pháp thực hiện bao gồm:

+   Quản lý giám sát hành vi.

+   Chuyển biến tâm tư – tình cảm.

+   Điều trị cắt cơn – bệnh cơ hội – bệnh tâm thần.

+   Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc nhằm phục hồi nhận thức – hành vi nhân cách – tinh thần trách nhiệm – điều chỉnh những rối loạn tâm – sinh lý cho người nghiện ma túy.

C- NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ:

I.    NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN:

Vì tính chất đa dạng của bệnh nghiện ma tuý nên nếu sử dụng một vài biện pháp thì không đảm bảo đáp ứng hết được mọi yêu cầu cho công tác cai nghiệnmà phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp để phục vụ cho điều trị. Tuy Một số nguyên tắc cơ bản phải thực hiện:

    1/     XÂY DỰNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG:

1.1.Tôn trọng lẫn nhau.

1.2.Có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Lòng biết ơn.

1.3.Tự tin vào giá trị bản thân.

1.4.Biết thương yêuquan tâm  đến người khác.

1.5.Phối hợp trong công việc.

1.6.Trung thực – trách nhiệm – khiêm tốn – cởi mở.

1.7.Năng động sáng tạo – khả năng nhận thức tốt.

1.8.Tích cực lao động.

2/     XÂY DỰNG MỘT MÔI TRUỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN VÀ LÀNH MẠNH:

2.1-     Không ma tuý.

2.2-     Không có hành vi bạo lực hay đe dọa bạo lực.

2.3-     Không hành vi tình dục.

2.4-     Không trộm cắp.

2.5-     Luôn luôn nhắc nhở kiểm tra thực hiện các nguyên tắc cộng đồng đề ra.

2.6-     Đặt ra những quy định mới nếu thấy cần thiết.

      3/     NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC:

3.1.    Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ ngày được giám sát chặt chẽ.

3.2.    Phân công công việc rõ ràngcho từng thành viên.

3.3.    Có sự chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới và sự phản ánh kịp thời từ dưới lên.

3.4.    Đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định. Mọi hành vi được giám sát chặt chẽ và thường xuyên.

3.5.    Xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồngnhằm khuyến khích việc tích cực điều chỉnh hành vi.

3.6.    Phương pháp điều trịphải dựa trên nguyên tắc nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người nghiện.

4/     NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

4.1.     Phương pháp điều trị không bao giờ được làm tổn thương đến nhân phẩm đối tượng và phải được xây dựng trên những hiểu biết sâu sắc về ma túy và người nghiện.

4.2.     Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm nâng cao sức khoẻđiều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách, thông qua tư vấn – tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, hoạt động trị liệu, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu.

4.3.     Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị.

4.4.     Đối tượng cảm nhậnđược sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

4.5.     Đối tượng  cảm nhậnđược sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của đối tượng.

4.6.     Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tinh thần.

4.7.     Phải tạo được môi trường điều trị – phục hồi an toàn.

4.8.     Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thựctính cởi mở trong nguyên tắc cộng đồng đề ra.

4.9.     Kết hợp liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (xem mục PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN tại website này)

5/     NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NHANH SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

5.1    Phải có những nguyên tắc giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần sử dụng đến vũ lực.

5.2    Phải có những hoạt độngnhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị khác…).

5.3    Tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể  giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thựckhông lo ngại có sự chế diễu hayphản đối từ phía đối tượng khác.

5.4    Giúp đối tượng cũng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh qua biện pháp giáo dục tâm lý – xã hội cho dối tượng.

       6/     XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU:

6.1.        Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm.

6.2.        Đối tượng được nhóm, tổ chức phân công việc.

6.3.        Sử dụng nhóm đồng đẳng quản lý lẫn nhau.

6.4.        Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo, giao ban hay lịch phân công lao động đểquản lý.

6.5.        Giám sát nghiêm ngặt tuân thủ các loại quy định, nguyên tắccủa cộng đồng.

       7/     XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

7.1     Kế hoạch điều trị:

–   Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.

–   Xây dựngmột kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.

–   Kế hoạch này phải có những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.

–   Xác địnhnhững hoạt động diều trị cụ thểchỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được  mục tiêu yêu cầu điều trị đề ra.

–   Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

7.2    Theo dõi tiến độđiều trị của đối tượng theo kế hoạch đã đề ra: Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hơp đối tượng.

7.3     Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng,  phân công người quản lý theo dõi.

7.4    Nhận xét của nhân viên tư vấnvề sự tiến bộ của đối tượng.

7.5    Biên bảncủa những buổi tư vấn cá nhân, nhóm, gia đình.

7.6    Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.

      8/     XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

8.1    Dựa trên các tiêu chuẩn đã đề ra để khen thưởng các học viên tích cực.

8.2    Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng như : viết thư, tặng quà lưu niệm, biểu  dương trước tập thể…

8.3    Đi dã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị.

8.4    Cho về thăm gia đình.

Việc khen thưởng này tùy thuộc vào từng hoàn cảnh trung tâm – trường – trại – địa phương.

II.    CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT:

1/         NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NGƯÒI XỨNG ĐÁNG VÀ MẪU MỰC: Đôi ngũ điều trị phải làm thế nào để đối tượng tôn trọng. Họ phải là tấm gương sángcho đối tượng để có thể ảnh hưởng giáo dục nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi,nhân cách của học viên.

Người nghiện ma tuý thường thực hiện nhiều hành vi không tốt, nhưng họ ít thấyhay biện minh cho bản thân mình, trong khi đó họ lại rất tinh ýnhạy bénnhận xét những điều không tốt của người khác. Do đó, nếu nhân viên điều trị không gương mẫu khó có thể chuyển đổi đối tượng.

Đối với đồng nghiệp nhân viên điều trị phải tuân thủ những quy định, những mối quan hệ thân thiện.

Đối với đối tượng nhân viên điều trị phải thương yêuđồng cảm nhưng cũng phải xác định một ranh giới không thể vượt qua của người quản lý và đối tượng.

2/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI ĐẢM BẢO KHÔNG CÓ MA TUÝ HOẶC CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN KHÁC:

Một môi trường trị liệu để lọt ma tuý vào sẽ gây lây lan bệnh tật, tinh thần học viên không bình ổn, thiếu quyết tâm cai nghiện, dễ bức xúc phá vỡ chương trình điều trị.

          Đây là yếu tố tiên quyếtvì nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ phá huỷ toàn bộ kế hoạch, hệ thống hoạt động của Trung Tâm.

3/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ MỘT NƠI AN TOÀN KHÔNG CÓ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC: mọi hoạt động diễn ra một lối sống không có ma tuý, không có cảnh ức chế nhau, nơi mà hành vi của một người luôn đượccác người khác xem xét, góp ýkhông hề do một áp lực nào, một ý đồ xấu nào và được giáo dục liên tụcvề một nếp sống nề nếp chuẩn mực.

4/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NƠI ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ GIÚP ĐỠ ĐIỀU CHỈNH SAI LẦM CHO NHAU .

5/         MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI CÓ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ HÀNH VI VÀ NHÂN CÁCH NHƯ MỘT XÃ HỘI GƯƠNG MẪU nhằm những tiêu chuẩn sau đây:

+Trách nhiệm quan tâm đến người khác.

+Trung thực, không dối trá.

+Thương yêu, cởi mở, chân thành.

+Đoàn kết.

+Kỷ luật.

+Nhận biết được bổn phận, trách nhiệm.

6/         MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU PHẢI DỰ KIẾN MỌI BIỆN PHÁP KHI CÓ TÌNH HUỐNG XẤU: Phải can thiệp ngay kịp thời khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.

7/         CÁC ĐIỀU KIỆN Y TẾ – GIÁO DỤC – QUẢN LÝ – CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ TRÌNH ĐỘ VÀ NHIỆT TÌNH ĐỂ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG ĐƯỢC VÀ KỊP THỜI MỌI TÌNH HUỐNG.

8/         CẦN CÓ MỘT THOẢ THUẬN ĐIỀU TRỊ NÓI LÊN QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN: Thỏa thuậnphải nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâm. Nội dung thoả thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đếnmột sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội và thu thập những kỹ năng để vượt qua thử thách tái nghiện.

9/         NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

9.1-         Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Vai trò của những người có trách nhiệm, uy tín trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập của các thành viên.

9.2-          Họ nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nóiviệc làm của nhữngngười có vị trí trách nhiệm đối với các thành viên trong cộng đồng. Phải biết rằngcác thành viên trong cộng đồng luôn theo dõi việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắcgiá trị của cộng đồng hay không, cũng như theo dõi mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong cộng đồng, không được để các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng . Bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nóihành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trịcó thể sẽ được người nghiện lợi dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.

9.3-         Để thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nắm rõ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản lý thành công nhất là, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để họ học tập là những minh họa cụ thể trong giáo dục người nghiện. Những người quản lý không chỉ đảm bảo sự tồn tại, duy trì hoạt động của “môi trường trị liệu cộng đồng” mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thật sự cho người nghiện ma túy.

9.4-         Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người cai nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ làbằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma tuý, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩcảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ bản lĩnh của mình đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những người hướng dẫn rất có hiệu quả trong môi trường trị liệu cộng đồng – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với việc thông hiểu những suy nghĩ , thậm chí cả những mánh lới của đối tượng. Tuy nhiên việc sử dụng người cai nghiện thành công vào công tác quản lý của Trung tâm là vấn đề phức tạp như việc dùng dao hai lưỡicó thể tốt nhưng cũng có thể rất nguy hiểm nếu họ có ý đồ xấu thiếu trình độ hoặc tái nghiện lại. Do đó, để xử lý tình huống, người cán bộ quản lý phải có khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

8 minh chứng cho thấy Công nghệ làm chúng ta ngày càng… ngu

Những thiết bị thông minh đang khiến chúng ta ngày càng… ngu đi. Đó là một thực tế khi xét ở khía cạnh hậu quả tác động của công nghệ lên sự phát triển của não người cũng như với cuộc sống hàng ngày.

Tiến bộ công nghệ đi kèm với một vài hậu quả không thể dự báo. Theo nhà tâm thần học Michael Merzenich, não người đang bị thay đổi vì công nghệ, thậm chí có thể làm chết người. Cụ thể, tác động của nó đến con người đến đâu?

1. Công nghệ xáo trộn giấc ngủ

Các nghiên cứu chỉ ra ánh sáng xanh từ thiết bị như smartphone, tablet, laptop ngăn cản cơ thể tiết ra melatonin vào ban đêm. Melatonin là hormone quan trọng giúp điều hòa đồng hồ sinh học, thông báo cho cơ thể biết khi nào là đêm và nên đi ngủ. Ánh sáng xanh cản trở quá trình này, khiến bạn khó có giấc ngủ sâu.

Mất ngủ tạo ra nhiều hiệu ứng tiêu cực cho não. Nếu không ngủ đủ 8 tiếng, bạn sẽ cảm thấy tâm trạng khó chịu, giảm tập trung khi làm việc, gặp vấn đề về trí nhớ, chưa kể đến tổn thất mô não.

2. Bạn dễ bị phân tâm

Không cần phải giỏi khoa học bạn mới biết về điều này: thực tế công nghệ làm chúng ta dễ xao lãng dù đang làm một việc vô cùng quan trọng. Làm nhiều việc cùng lúc chưa bao giờ hiệu quả mà chỉ làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.

Thanh thiếu niên là đối tượng bị ảnh hưởng nhất. Trong khảo sát năm 2012 của trung tâm Pew đối với hơn 2.400 giáo viên, họ cho biết học sinh ngày nay dễ phân tâm hơn thế hệ trước.

3. Bạn không thể nhớ nhiều thứ…

Công nghệ “thò mặt” vào mọi ngóc ngách khiến bạn khó hình thành ký ức mới. Theo tác giả Nicholas Carr, có hai dạng bộ nhớ: ngắn hạn và dài hạn, thông tin cần chuyển từ dạng ngắn hạn sang dài hạn để được lưu trữ lâu hơn. Bất kỳ hoạt động nào can thiệp vào quá trình này như dừng lại để kiểm tra email, nhắn tin trong khi đang đọc báo đều xóa bỏ thông tin trước khi sự trao đổi diễn ra.

Ngoài ra, còn có giới hạn về lượng thông tin ghi nhớ được trong một khoảng thời gian. Khi tiếp xúc với quá nhiều thứ, nó giống như “tưới nước liên tục cho cỏ cả ngày dài, vì thế bất cứ thứ gì nằm ở trên đều bị gạt sạch khi có đợt nước mới”, chuyên gia Tony Schwartz so sánh.

4. … nên phải nhờ cậy đến Internet

Mọi người thường muốn ghi nhớ lượng kiến thức lớn bằng cách đọc lai các cuốn sách đã đọc một cách tường tận song công nghệ loại bỏ cả nhu cầu lẫn động lực làm việc này. Khi bạn biết Google hay smartphone có thể làm điều đó thay bạn, bạn ít có mong muốn lưu nó trong bộ nhớ. Có người đã ví Internet như “ổ cứng ngoài” của bộ não khi chúng ta “outsource” một lượng lớn thông tin cho web.

5. Bạn đãng trí hơn hẳn

Theo khảo sát của Trending Machine năm 2013, thế hệ trẻ còn đãng trí hơn cả người 55 tuổi khi hay quên ngày tháng, nơi cất chìa khóa nhà. Trong thông cáo báo chí, bác sĩ trị liệu Patricia Gutentag gọi tên công nghệ là thủ phạm chính.

6. Không biết mình đang đọc gì

Dù gạt hết mọi thứ gây xao lãng sang một bên, bạn không thể hấp thụ thông tin đọc trên mạng như khi đọc sách. Hypertext (siêu văn bản) là một trong những nguyên nhân vì các đường liên kết màu mè ẩn trong bài báo buộc não hoạt động vất vả hơn, chỉ còn ít năng lượng để xử lý những gì đang đọc.

7. Không thể tìm đường nếu thiếu GPS

Những người quá phụ thuộc vào GPS có ít hoạt động trong hippocampus, một khu vực trong não bộ có liên quan đến bộ nhớ và khả năng điều hướng. Theo một nghiên cứu năm 2010, sử dụng trí nhớ không gian (spatial memory) liên quan đến dấu hiệu trực quan để phát triển bản đồ nhận thức, ghi nhớ tuyến đường thay vì dùng GPS sẽ giúp ngăn chặn các vấn đề bộ nhớ sau này.

Nghiên cứu năm 2008 của Đại học Luân Đôn chỉ ra lái xe taxi có hippocampus phát triển hơn lái xe thông thường, có lẽ vì họ quen với việc chạy quanh thành phố bằng trí nhớ không gian mà không lệ thuộc vào GPS.

8. Có bộ não của người nghiện

“Nghiện” không phải là một từ để nói đùa khi thấy ai đó dành quá nhiều thời gian cho game, mạng xã hội, smartphone. Thực tế, theo một nghiên cứu năm 2012, nó có thể tạo ra thay đổi trong não bộ tương tự tác động của ma túy và cồn.

Nghiện Internet, phổ biến nhất ở giới game thủ quên ăn, quên ngủ, quên học hành để chơi game, cản trở các vùng xử lý cảm xúc và ra quyết định. Người nghiện rượu, ma túy cũng có vùng não bất thường như vậy.

Qua những gì mô tả trên đây, bạn có thể nắm được phần nào tác động của công nghệ lên bộ não con người. Để không trở thành nô lệ của công nghệ hay tránh những phản ứng tiêu cực làm hủy hoại cuộc sống, cách tốt nhất là hãy ngắt kết nối, cân bằng giữa thời gian dùng Internet và sinh hoạt hàng ngày.

Nguồn: Theo ICTnews

5 thói xấu “con nghiện” thời trang nào cũng mắc phải

Xem nhẹ đồ nội y, mê quần áo giảm giá… là những thói xấu khó bỏ của các tín đồ thời trang.

Là “con nghiện” thời trang, bạn thường sẽ chẳng thể tránh khỏi việc phải đối mặt với chiếc thẻ ngân hàng lúc nào cũng trong tình trạng báo động đỏ. Bạn cũng có thể dễ dàng lâm vào cảnh đứng trước một tủ đồ ngồn ngộn quần áo nhưng lại chẳng thấy có món nào đủ đẹp để diện.

Vậy mới biết có hàng tá những nỗi khổ tâm các “con nghiện” thời trang luôn sợ phải đối mặt. Mà lý do ít nhiều đều xuất phát từ những thói quen xấu dưới đây.

Không thể từ chối đồ giảm giá

Đây có lẽ là một trong những thói quen khó bỏ nhất của các tín đồ, những người luôn bị cám dỗ bởi hàng dãy quần áo đẹp với cái giá (có vẻ) quá hời. Thế nhưng thực tế là trong phần lớn trường hợp, quần áo giảm giá chỉ được diện vài lần rồi bị các nàng hắt hủi, hoặc tệ hơn là bỏ quên luôn trong góc tủ.

Để lựa chọn thì vẫn có hàng chục, hàng trăm chiếc quần áo được chủ nhân xem xét kĩ càng, “cân đo đong đếm” rất nhiều mới quyết định mang về. Vậy thì những món đồ sale được mua vội vàng, thậm chí nhiều khi còn không thể mặc thử làm gì có cơ hội chen chân.

Chẳng thể ngồi nhà làm ngơ mỗi khi shop “ruột” treo biển giảm giá? Giải pháp là bạn hãy cứ đi shopping, nhưng trước khi cầm một món quần áo ra bàn thanh toán, nhớ dành 5 giây để tự hỏi:“Liệu khi món đồ này trở về giá cũ, bạn vẫn muốn mua nó?”.

Nếu câu trả lời là không thì hãy bỏ món đồ đó xuống, dù có mua về thì bạn cũng chẳng bao giờ mặc đến đâu.

Rút ví cho những món đồ nằm quá xa ngoài “vùng thoải mái”

“Vùng thoải mái” là một khái niệm trong tâm lý học để mô tả môi trường mà khi một người được ở trong đó, mọi hành xử của họ đều thoải mái và tự tin.

Mọi người thường được khuyến khích là nên bước xa ra khỏi “vùng thoải mái” để phát triển bản thân, nhưng dường như điều đó chẳng đúng với thời trang cho lắm.

Đồng ý là bạn có thể phá cách một chút nếu cảm thấy phong cách của mình đang có phần nhàm chán và cũ kỹ. Thế nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc bạn phải “cố sống cố chết” thay đổi.

Nếu bạn thấy không ổn khi mặc những loại quần áo khoe da thịt, đừng cố đem về tủ một chiếc váy body cut-out. Bởi một là món đồ sẽ lại bị lãng quên như đồ giảm giá, hai là bạn sẽ rơi vào cảnh co ro khúm núm cả ngày vì cảm thấy thiếu tự tin.

Xem nhẹ những món nội y

Những món nội y “hợp cạ” với trang phục và vóc dáng luôn là món đồ nên được quan tâm đầu tiên trong danh sách mua sắm của các phái đẹp.

Thực tế là có nhiều tín đồ thường chỉ mải mê sắm quần áo mặc ngoài mà vô tình xem nhẹ những món nội y. Phải nhớ rằng một chiếc áo ngực vừa vặn, tôn dáng và phù hợp với trang phục sẽ cộng thêm kha khá điểm tốt cho vẻ ngoài của bạn.

Nó sẽ giúp các nàng thấy tự tin và thoải mái hơn nhiều khi không còn phải nơm nớp lo sợ những sự cố tế nhị như tuột áo, hở dây áo hay áo ngực quá “nổi” so với trang phục…

Tuyệt đối tin tưởng lời khuyên của các “chuyên gia” thời trang

Các “chuyên gia” khuyên chị em mũm mĩm không nên mặc kẻ sọc ngang. Các “chuyên gia” nói rằng nàng ngực lép nên tránh xa những chiếc áo khoét sâu vùng cổ… Các “chuyên gia” có thể đưa ra hàng ngàn lời khuyên, nhưng chưa chắc nó đã đúng với tất cả.

Nếu cứ làm theo hết thảy những luật lệ thời trang cứng nhắc, thì sẽ có ngày tủ quần áo của các tín đồ chỉ còn lại vài món cơ bản như áo sơ mi trắng hay quần skinny đen. Thế nên điều bạn cần làm là hãy phá luật.

Ngay cả khi thừa cân một chút mà vẫn mê mẩn họa tiết kẻ ngang, vậy thì ngại gì không thử. Biết đâu một chiếc áo oversized họa tiết lại hoàn toàn phù hợp và chẳng hề khiến bạn trông béo hơn như “chuyên gia” đã nói.

Ai bảo rằng người béo không nên mặc kẻ sọc ngang?

Chạy theo mọi xu hướng

Đã là tín đồ thời trang thì hẳn sẽ luôn nhanh nhạy trong việc cập nhật các xu hướng. Thế nhưng nhanh nhạy cũng chưa chắc đã là chuyện tốt.

Đừng chỉ vì vài bài báo ca ngợi xu hướng đi tất với sandals cùng hình người mẫu minh họa đẹp lung linh, bạn đã vội nghĩ mình ngay ngày mai cũng có thể diện kiểu mốt khó hiểu này.

Có những xu hướng tuy đẹp nhưng bạn mặc lên dễ thành thảm họa hoặc có những xu hướng chính bản thân nó đã là thảm họa. Vậy nên việc học hỏi các xu hướng đương nhiên là điều cần thiết, nhưng hãy biết chọn lọc.

Mỹ Nam (Khampha.vn)