Hồng phiến có hại hơn heroin và cocain

Các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven ở Upton, New York vừa đưa ra lời cảnh báo: Hồng phiến, một loại thuốc gây nghiện mạnh, làm tổn thương não nhiều hơn heroin, rượu hay cocain. Người sử dụng thuốc này có thể bị rối loạn trí nhớ và phối hợp động tác, thậm chí là sau 11 tháng ngừng thuốc. Hồng phiến, tên khoa học là Methamphetamine, thường được biết đến với cái tên “tốc độ”. Nó được chế biến từ những thành phần khá rẻ nên đã nhanh chóng trở nên hết sức phổ biến. Bác sĩ Nora D. Volkow và đồng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 15 người từng lạm dụng hồng phiến và 18 người không sử dụng thuốc này. Kết quả cho thấy: Nồng độ một phân tử được gọi là yếu tố vận chuyển dopamine trong não giảm ở những người lạm dụng hồng phiến. Điều này dẫn đến hiện tượng giảm trí nhớ và kỹ năng vận động của những người này. Đây là một bằng chứng cho thấy ảnh hưởng xấu của thuốc đối với não. Theo các nhà khoa học, ảnh hưởng này lớn hơn nhiều so với những gì mà heroin, rượu và cocain gây ra. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để biết tác hại này kéo dài bao lâu. Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả này cũng cho thấy hồng phiến gây ra hiện tượng viêm trong não. Theo bác sĩ Volkow, hai kết quả này khẳng định hồng phiến là một thuốc rất độc. Từ hồi đầu thế kỷ, người ta đã biết cách chế tạo Methamphetamine từ amphetamine và sử dụng nó làm thuốc chống ngạt mũi và thuốc dạng hít. Hồng phiến “tiếp thêm năng lượng” cho người dùng, gây cảm giác phấn chấn trong vòng 8 giờ. Khi hiệu quả của thuốc đạt tới mức tối đa, trạng thái kích động có thể dẫn tới hành vi bạo lực.
Thu Thủy (theo Reuters, 3/3).
(Theo_VnExpress )

Tác hại khôn lường của ma túy “đá”

Thời gian gần đây, số vụ buôn bán ma túy tổng hợp được Công an Hà Nội khám phá ngày càng nhiều. Nổi lên trong đó một loại ma túy mới, mà “dân chơi” quen gọi là ma túy “đá”, hay “hàng đá” (Methamphetamine). Đây là loại ma túy có sức tàn phá cơ thể lớn, đặc biệt độc hại… cho người sử dụng.

Ma túy “đá” tại Hà Nội

cai nghiện ma túy đá

Đối tượng trong đường dây buôn bán “hàng đá” bị công an bắt giữ

21h30 ngày 25-4-2006, tổ công tác CAP Láng Hạ, quận Đống Đa tiến hành kiểm tra hành chính tại khách sạn Sao Mai trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tại phòng 402, phát hiện Lê Văn Công (SN 1974), HKTT tại đường Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, tỉnh Nam Định, hiện trú tại phường 13, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh tàng trữ 1 túi nilon có chứa bột trắng, nhìn giống các mảnh kính vụn nghi là ma túy, trọng lượng 2,171 gam.

Tiến hành giám định, kết quả cho thấy, đây là một loại ma túy tổng hợp có tên khoa học là Methamphetamine, lần đầu xuất hiện ở Hà Nội. Quan sát bằng mắt thường, Methamphetamine tồn tại ở dạng tinh thể, giống như các hạt đá vụn, do vậy các đối tượng buôn bán “hàng” này gọi nó là ma túy “đá”. Từ sau sự “ra mắt” này, nhiều vụ triệt phá các ổ nhóm, tụ điểm buôn bán ma túy tổng hợp tiếp theo, cơ quan công an thu giữ được nhiều hơn loại ma túy này.

Điển hình, tháng 7-2007, Đội 3 – Phòng CSĐT tội phạm về ma túy (PC 17) – CATP Hà Nội phát hiện một đường dây chuyên mua bán, tiêu thụ các loại ma túy tổng hợp tại Hà Nội. Cầm đầu là vợ chồng Hoàng Minh Tuấn (SN 1972) và Nguyễn Thị Châu (SN 1974), HKTT tại xóm Tiền Phong, phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng. Để cạnh tranh với những nơi khác, Tuấn – Châu thường xuyên cập nhật những loại ma túy mới nhất đáp ứng nhu cầu của dân chơi.

Theo đó, hàng ngày hai đối tượng giao “hàng” cho Đặng Quốc Bảo (SN 1974), HKTT tại phố Minh Khai, Hai Bà Trưng và Nguyễn Hùng Sơn (SN 1978), HKTT tại phường Mai Dịch, Cầu Giấy đi tiêu thụ hàng tại các nhà hàng, quán karaoke trên địa bàn nhiều quận, huyện tại Hà Nội. Sau một thời gian theo dõi, 2h ngày 9-11-2007, Đội 3 – Phòng PC17 đã thực hiện kế hoạch triệt phá đường dây vận mua bán, tiêu thụ ma túy tổng hợp quy mô lớn này. Kết quả đã bắt giữ 6 đối tượng, thu 2.241 viên ma túy tổng hợp, một túi ma túy “đá”, 12 bộ cóng bằng thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy “đá”, cùng nhiều loại ma túy tổng hợp khác. Đây là đường dây mua bán, tiêu thụ ma túy tổng hợp lớn nhất từ trước tới nay được khám phá trên địa bàn Hà Nội, và cũng là vụ thu giữ nhiều “hàng đá”.

Ma túy “đá” và những tác hại chết người!

Số ma túy “đá” bị phát hiện đầu tiên ở Hà Nội

Theo Thượng tá Lê Văn Thuần – Phó trưởng Phòng Kỹ thuật hình sự – CATP Hà Nội thì ma túy “đá” thực chất là một loại ma túy tổng hợp, có tên trong từ điển về ma túy là Methamphetamine (meth). Ma túy “đá” tồn tại ở cả dạng viên nén nhưng xuất hiện ở Việt Nam chủ yếu ở dạng tinh thể. Cách đây hàng chục năm, thế giới đã biết tới meth là loại thuốc được điều chế để điều trị cho các bệnh nhân có bệnh tâm thần, trầm cảm… Khi dùng, thuốc sẽ kích thích hệ thần kinh người bệnh, khiến họ trở nên hoạt bát, tinh thần hưng phấn, mất cảm giác mệt mỏi, buồn ngủ và làm trí nhớ người được cải thiện. Tuy nhiên, quá trình đưa vào sử dụng, các bác sĩ, các nhà khoa học nhận thấy, meth gây cho người sử dụng các tác dụng xấu và có hại. Người dùng meth nhiều, ảo giác sẽ luôn thường trực, luôn ở trạng thái buồn ngủ, thần kinh rối loạn, tính cách trở nên hung hãn. Theo các nhà nghiên cứu, meth trước đây được nhiều binh sĩ phương Tây sử dụng trước mỗi trận đánh, để kích thích hưng phấn, mất cảm giác đói, không buồn ngủ và không sợ hãi khi làm nhiệm vụ.

Vậy, meth (ma túy “đá”) có những tác động thế nào với những người bình thường? Ngay khi sử dụng, meth sẽ tác động trực tiếp gây kích thích hệ thần kinh trung ương và có thể tạo ảo giác trong một thời gian dài. Sự hưng phấn, sung mãn, tự tin của những người sử dụng loại “thuốc độc” này khiến họ có thể làm những điều họ không dám như: chạy xe điên cuồng; tự rạch, cào, cắn vào chính cơ thể mình, quan hệ tình dục tập thể, nhảy nhót, la hét…

Do cũng chứa chất dùng trong thuốc giảm cân, do vậy, meth kích thích người sử dụng hoạt động với tần suất cao nhưng lại không làm họ thèm ăn, buồn ngủ sau đó 3-4 ngày liền, hoặc lâu hơn. Không ăn, không ngủ, lại hoạt động hết công suất cho việc nhảy nhót, lắc lư và hoạt động tình dục… khiến người sử dụng meth khi hết ảo giác sẽ như người vô hồn, thân hình tàn tạ, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng. Có thuốc thì vậy, nhưng khi không dùng, người nghiện sẽ có cảm giác lo lắng, sợ hãi, khó chịu ở não và toàn cơ thể, khiến họ luôn tự xa lánh mọi người. Cùng với đó, cảm giác như bị sâu bọ bò trong da sẽ làm họ khó chịu, khiến họ cào cấu mặt mũi, chân tay để giải tỏa sự hành hạ của ma túy.

Loại ma túy độc hại này được sử dụng chủ yếu dưới hai hình thức, hít trực tiếp qua đường hô hấp, hoặc một cách “chơi” cầu kỳ hơn là đốt nóng chảy loại ma túy này bằng một dụng cụ chuyên dụng, trông giống như một “bàn đèn” (ảnh), rồi hút vào bằng đường miệng. Giới dân chơi gọi cách này là “ục”. Khác với cách gọi “cắn” của dân sử dụng “thuốc lắc”, với ma túy “đá”, thường được ám hiệu là “phá núi”, “đập đá”, “ục”… Giá của “hàng đá” thuộc loại đắt nhất hiện nay, ước chừng khoảng 45 triệu đồng/100 gam tinh chất.

Meth là loại ma túy gây nghiện cực mạnh, nếu đã sử dụng rất khó có thể cai. Với những tác hại chưa từng thấy của loại ma túy này, bài viết của chúng tôi muốn gióng lên cảnh báo để mọi người cùng chung tay ngăn chặn đường vào Việt Nam của loại ma túy này. Và hơn hết, cảnh báo tới tất cả mọi người hãy tránh xa loại ma túy này./-

Nguồn : ANTĐ

BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI  GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY

1.Tổn thương hệ thống não bộ  và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

2.Rối loạn và xuống cấp nhận thức – hành vi – nhân cách.

3.Chấn thương tâm lý: đây không phải là một hành động nhất thời mà là một quá trình diễn biến đầy mâu thuẫn và phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện của người nghiện ma túy đối với bản thângia đình và xã hội.

4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện, trừ một số ít trường hợp nhẹ.

Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn nhận thức hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

 

ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRÊN Y VĂN THẾ GIỚI ĐÃ CHỈ RÕ:

1/ Không có mô hình cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện mà chỉ có những nguyên tắc căn bản về điều trị – giáo dục – quản lý đối với người nghiện. Mô hình điều trị tốt cho người này, chưa hẳn đã phù hợp với người khác, mà thậm chí kết quả còn ngược lại.

2/ Trừ một số ít trường hợp nghiện nhẹđiều trị nghiện ma túy phải sử dụng một biện pháp tổng hợp, linh hoạt và kịp thờinhằm mục đích gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải tỏa các chấn thương tâm lý và để người cai nghiện không còn thèm nhớ ma túy phải sử dụng các liệu pháp sau:

·    Tư vấn – Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp giáo dục – Liệu pháp xã hội – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Hoạt động trị liệu – Sinh hoạt cá nhân, nhóm, gia đình,…

·    Đối với nhóm người nghiện Á phiện – Morphine -Héroine (OMH) cần phải uống thuốcNALTREXONE để đối tượng không còn thèm nhớ ma túy. Tuy nhiên, nếu chỉ uống thuốc Naltexone đơn thuần mà không sử dụng các liệu pháp trênngười cai nghiện sẽ không được phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – giải quyết các chấn thương tâm lý nên dễ bỏ chương trình điều trị và dễ tái sử dụng ma túyKết quả điều trị do đó sẽ rất hạn chế.

3/ Không có một liệu pháp đơn thuần nào (uống thuốc, châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật thùy não,…) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy.

4/ Chương trình điều trị phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lý của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy giải quyết– nhưng phải phối hợp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực mình với lĩnh vực chuyên môn của người khác.

5/ Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

TÁC HẠI CỦA MA TÚY TỔNG HỢP DẠNG KÍCH THÍCH (MA TÚY ĐÁ – THUỐC LẮC – AMPHETAMIN …)

(Amphetamine – Type Stimulants) (ATS)

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

  I. DỊCH TỄ HỌC:

Sử dụng Amphetamin có thể xảy ra ở mọi tầng lớp xã hội nhưng nhiều nhất ở nhóm “nghề nghiệp áo trắng”: sinh viên học thi, lái xe tải đường dài, vận động viên thể thao trong thi đấu, các doanh nghiệp trước các công việc quan trọng…

Lúc đầu, sử dụng Apx để tăng sự tỉnh táo, tăng năng xuất công việc, chống mệt mỏi… rồi nhanh chóng trở thành lạm dụng và nghiện ATS.

·        Sử dụng ATS trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.

+       Quân đội Mỹ: Phi công được sử dụng để giúp họ tỉnh táo.

+      Quân đội Đức: Sử dụng thuốc ATS sản xuất trong nước với tên biệt dược là Pervitin. Hitle được bác sĩ riêng, Theodore Morell tiêm hàng ngày.

·       Ở Mỹ

+      Binh lính Mỹ được khuyến khích dùng Amphetamin cả trong chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên.

+      Hiện nay ATS vẫn được phép sử dụng trong quân đội Mỹ.

+      57% phi công Mỹ trở về sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 họ nói thường xuyên sử dụng ATS.

Năm 1991: 7% dân số dùng ATS ít nhất 1 lần/ năm và 1% nghiện. Nhóm tuổi từ 18 – 25 có tỷ lệ cao nhất (7% có sử dụng ít nhất 1 lần), nhóm 12 – 17 có tỷ lệ nghiện đáng báo động (3% đã sử dụng ít nhất 1 lần).

Năm 1992: 13,9% sinh viên đại học và cao đẳng sử dụng ít nhất 1 lần và năm 1994: tăng đến 15,7%.

·    Ở Nhật:

Năm 1948 có 50% người tuổi từ 18 – 25 sử dụng ATS ít nhất 1 lần (sau đệ nhị thế chiến). Hiện nay ATS vẫn là chất ma túy chủ yếu…

·    Các nơi khác:

Số nguời đã sử dụng ATS ở Thụy Sĩ là 8%, Đức 2,8%, Tiệp Khắc 1,6%, Brazil là 5%. Tại Úc 25% nam và 12% nữ tuổi từ 20- 24 đã thử dùng ATS.

·   Ở Việt Nam:

Xuất hiện từ cuối những năm 90 của Thế kỷ trước, hiện ATS đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố.

ATS được dùng phổ biến ở Việt NamMethamphetamineEctasy với các tên lóng như: đá, thuốc lắc, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba..

Do giá thành cao, ATS được dùng phổ biến trong nhóm người nghiện ma túy là những thanh niên con nhà khá giả ở những thành phố lớn.

*   Thống kê tại bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có 9 bệnh nhân sử dụng nhóm ATS nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần (93 người). Riêng 3 tháng đầu năm 2012 nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý đã là 15 người.

TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY
THANH ĐA
 (TỪ 2005 ĐẾN 22-/06/2014) thống kê cho thấy số học viên sử dụng nhóm ATS như sau:​

NĂM SỐ HỌC VIÊN SỬ DỤNG NHÓM AMP ty-le-su-dung-nhom-amp.PNG - 6.11 kb SỐ HỌC VIÊN PHẢI  ĐIỀU TRỊ HÓA DƯỢC (THEO ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH VIỆN TÂM THẦN) ty-le-deu-tri-hoa-duoc.PNG - 6.29 kb SỐ PHẢI ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TẦM THẦN
2005 04 0,56% 00 00% 0
2006 05 0,90% 00 00% 0
2007 22 2,10% 00 00% 0
2008 43 2,93% 02 4,65% 0
2009 69 4,75% 07 10,14% 0
2010 140 9,70% 29 20,07% 3
2011 255 16,95% 55 21,57% 3
2012 361 22,46% 67 18,56% 5
2013 358 24,49% 121 33,80% 6
NĂM 2014 436 29,9%% 141 32,34% 5
NĂM 2015

 (01/01/2015 ĐẾN 30/09/2015)

395 37,87% 114 28,86% 5

Cho đến nay số học viên nghiện ma túy nhóm ATS đã được điều trị tại Trung tâm là hơn 1.952 trường hợp. Riêng năm 2013 và 2014, tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy nhóm ATS phải điều trị bằng hóa dược chiếm 33,80 %, gấp gần 2 lần số học viên được điều trị bằng hóa dược năm 2012. Kết quả trên cho thấy:

– VẤN ĐỀ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS CẦN BÁO ĐỘNG: TÁC HẠI CỦA NGHIỆN MA TÚY NHÓM ATS LÀ KHÔNG LƯỜNG ĐƯỢC, nhất là khi người nghiện ma túy thuộc nhóm tài xế lái xe tải nặng đường dài, số người nghiện có tiền án tiền sự, số người từ các trung tâm cai nghiện trở về tái nghiện, …

–  Số người sử dụng ma túy ATS tăng nhanh đều mỗi năm. Hiện nay tại Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa số học viên sử dụng ATS chiếm hơn 1/3 so với tổng số học viên cai nghiện ma túy.

–  Số học viên có vấn đề tâm thần buộc điều trị hóa dược gần 1/3 trên tổng số học viên sử dụng ma túy nhóm ATS. Số học viên nghiện ATS còn lại hầu hết đều có vấn đề tâm thần.

II.   CƠ CHẾ TÁC DỤNG:

Tất cả các loại ATS đều hấp thu nhanh qua đường uống và tác động lên hệ thần kinh trung ương xảy ra nhanh trong vòng 1 giờ sau khi uống. Các Amphetamin cổ điển cũng được sử dụng đường tiêm tĩnh mạch do nó có hiệu quả ngay lập tức. Ngoài ra Amphetamin mới cũng như loại không được kê đơn cũng được sử dụng hít qua đường mũi. Sự dung nạp cũng được xảy ra với 2 loại Amphetamin nói trên, mặc dù người sử dụng Amphetamin thường vượt qua sự dung nạp bằng cách sử dụng nhiều loại ma túy hơn. Amphetamin gây nghiện yếu hơn cocaine.

Các loại Amphetamin cổ điển (dextroamphetamine, methamphetamine (hàng đá) và methylphenidate) có hiệu quả ban đầu của nó bằng cách gây tăng phóng thích cathecoliamine, đặc biệt dopamine ở tận cùng tiền synapse. Các hiệu quả đặc biệt mạnh với các nơ ron dopaminergic ở vùng nhân tegment, nhân bụng của vỏ não và vùng hồi viền. Đường này đã được xác định là đường củng cố tích cực và sự kích hoạt nó hiển nhiên là cơ chế gây nghiện mạnh đối với các Amphetamine.

– Các loại amphetamine mới ( MDMA, MDEA. MNDA, và DOM) gây ra sự phóng thích Cathecholamine (dopamine và norepinephrine) và serotoninSerotonin là chất vận chuyển thần kinh được chứng tỏ như là đường hóa học thần kinh chủ yếu liên quan đến tác động gây ảo giác. Tuy nhiên hiệu quả lâm sàng của các Amphetamine mới cũng gây dung nạp chéo với các Amphetamine cổ điển và gây ảo giác. Dược lý của MDMA (thuốc lắc) được biết rất rõ trong nhóm này, nó có ái lực với các nơ ron serotoninergic qua việc chịu trách nhiệm vận chuyển serotonin, qua việc thu hồi serotonin. Khi vào tế bào thần kinh, MDMA gây ra một sự phóng thích nhanh serotonin và ức chế sản xuất ra các enzyme phân hủy serotonin.

–  MDMA còn có tên gọi khác là Ectasy, thuốc lắc, XTC, E, Eva & Adam …

III.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

ATS gây ra các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Khô miệng, khô môi

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Mất trí nhớ

+ Giảm khả năng xét đoán, tập trung

+ Giảm khả năng lao động xã hội.

+ Buồn nôn, nôn

+ Mất ngủ

+ Sút cân

+ Giảm ăn, biếng ăn

+ Hỏng răng, nuốt khó

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Trầm cảm, lo lắng

+ Căng thẳng, giận dữ, bồn chồn.

+ Hoang tưởng, ảo thanh, phản ứng hoảng sợ

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

+ Đột quỵ, nhũn não, đau đầu

+  Có ý tưởng tự sát.

Tóm lại, triệu chứng lâm sàng thể hiện qua hai mặt cơ thể và tâm thần như sau:

1.  VỀ CƠ THỂ:

+      Tác động chủ yếu trên hệ thần kinh – hệ tim mạch – hệ tiêu hóa.

+       Các biểu hiện lâm sàng đáng chú ý bao gồm: nhồi máu cơ timtăng huyết áp kịch phátbệnh lý mạch máu não và viêm đại tràng thiếu máu. Những người lạm dụng ATS thường có hành vi tình dục không an toàn.

+       Các tác dụng không mong muốn và ít nguy hiểm là: nóng bừng mặt, xanh xao, tím tái thiếu ô xy, sốt, đau đầu, nhịp tim nhanh, buồn nôn, nôn, mất men răng, thở hụt hơi, run, loạng choạng.

+       Ở phụ nữ có thai thường thai nhi chậm lớn, nhẹ cânvòng đầu nhỏsinh non.

2.  VỀ TÂM THẦN:

Người sử dụng ATS có các biểu hiện sau: bồn chồn, loạn khí sắc, mất ngủ, cáu kỉnh, hoảng sợ, lú lẫn, trở nên thù địch, và các triệu chứng của rối loạn lo âu. Ý tưởng liên hệhoang tưởng paranoid và các ảo giác cũng có thể xảy ra.

·    Đối với người sử dụng các loại Amphetamin mới, còn có các triệu chứng sau:

–       Triệu chứng ngắn hạnNhịp tim nhanh, run, khô miệng, dị cảm, co cơ, đổ mồ hôi, lơ mơ, mệt mỏi, mất ngủ, choáng váng, ảo thị, nhìn không rõ, hay giật mình, khó tập trung, có cơn nóng lạnh, đánh trống ngực, nhạy cảm với lạnh, dễ cáu kỉnh, mất men răng, nhìn thấy đồ vật lấp lánh, cảm giác thân thiện, gần gũi, quan hệ với người khác.

–       Triệu chứng kéo dài: ngủ lơ mơ, uể oải, đau cơ, mệt mỏi, trầm cảm, căng cơ hàm (nghiến răng), đau đầu, khô miệng, lo âu, buồn rầu, sợ hãi, dễ cáu kỉnh, khó tập trung chú ý, cảm giác thân thiện với người khác.

Ngoài ra hầu hết các chất ATS làm tăng nhu cầu tình dục nên người sử dụng ATS quan hệ nam nữ bừa bãi, hay chích chung kim do đó rất dễ lây nhiễm các bệnh HIV, viêm gan siêu vi, đồng thời do bị kích động người sử dụng ATS hay phóng xe, lạng lách gây tai nạn giao thông cho chính mình và người khác.

IV. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC AMPHETAMIN.

A. Thường xuyên dùng APT hoặc giống APT.

B. Có các thay đổi về tâm lý và hành vi không thích hợprõ rệt trên lâm sàng:

Khoái cảm, cùn mòn cảm xúc.

Mất ngủ, lo âu, căng thẳng, giận dữ

Các hành vi có tính định hình

Giảm khả năng xét đoán, khả năng lao động xã hội.

Các triệu chứng này xuất hiện trong khi sử dụng hay một thời gian ngắn sau khi sử dụng APT.

C. Có 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau:

+ Giãn đồng tử

+ Tăng, giảm nhịp tim

+ Tăng, giảm huyết áp

+ Toát mồ hôi, rét run

+ Buồn nôn, nôn

+ Sút cân

+ Kích động, ức chế trung tâm vận động.

+ Đau ngực, ức chế hô hấp

+ Lú lẫn hay hôn mê

+ Mỏi cơ, co giật, loạn trượng lực cơ.

D. Các triệu chứng này không do một bệnh cơ thể nào khác gây ra và không ghép được vào một rối loạn tâm thần nào khác.

V. CHẨN ĐOÁN TRẠNG THÁI LOẠN THẦN DO AMPHETAMIN:

(Amphetamine Inducd Psychosis)

+ Biểu hiện cốt lõi là h/c paranoid với các đặc trưng:

– Nhiều ảo thị (sinh động, nhiều màu sắc, cấp diễn và ảo thanh.

– Các ảo giác chiếm ưu thế trong bệnh cảnh.

– Các hoang tưởng thường gặp là: hoang tưởng liên hệ, bị truy hại, đôi khi có cả hoang tưởng bị kiểm tra, tư duy bị cài đặt, bị bộc lộ.

+ Tăng hoạt độnghoặc rối loạn hành vi theo ảo giác chi phối

+ Tăng tình dục(hypersexuality)

+ Bối rối lẫn lộn, đôi khi tư duy rời rạc không liên quan.

· Triệu chứng thường xuất hiện cấp diễn ở những người nghiện APT lâu ngày hoặc kèm nhiễm độc rượu, stress.

· Phân biệt với tâm thần phân liệt: triệu chứng giảm dần vài ngày khi được điều trị hoặc xét nghiệm nước tiểu đã tìm thấy chất ma túy.

VI. HỘI CHỨNG CAI AMPHETAMIN:

· Biểu hiện hội chứng cai có thể xuất hiện từ vài giờ đến vài ngày sau khi ngưng sử dụng APT.

· Các triệu chứng đạt cường độ tối đa trong vòng 2 – 4 ngày sauhết sau khoảng một tuần.

· Triệu chứng nặng nề nhất là trầm cảm. Ở người nghiện dài ngày, sử dụng ma túy liều cao thì trầm cảm thường rất nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát.

VII. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG CAI (DSM – IV):

A- Hội chứng xảy ra do ngừng hay giảm sử dụng APT (hoặc giống APT) ở người nghiện (đã dùng liều cao và kéo dài…) APT.

B- Có rối loạn khí sắc và có 2 hoặc nhiều hơn các rối loạn sau đây (xuất hiện sau khi ngừng sử dụng APT một vài giờ hay một vài ngày).

Mệt mỏi

– Có những giấc mơ đáng sợ.

Mất ngủhay ngủ nhiều.

Tăngcảm giác ngon miệng.

Kích thíchhoặc ức chế tâm thần vận động.

C – Các triệu chứng này thể hiện rõ rệt và gây rối loạn các hoạt động xã hội, lao động.

D – Các triệu chứng này không phải do một bệnh lý cơ thể hay rối loạn thần khác gây ra.

Nguồn : cainghienmatuythanhda